
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ các tài liệu chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết, thời hiệu khởi kiện:
Ngày 30/7/2025, ông Nguyễn Vương Q nộp đơn khởi kiện, yêu cầu hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 2637/QĐ-UBND ngày 25/6/2025 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ) và tại phiên tòa bổ sung yêu cầu hủy công văn số 1057/UBND ngày 14/4/2025 của UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ). Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Chủ tịch UBND xã T thực hiện công tác hỗ trợ, tái định cư theo quy định pháp luật. Yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Vương Q còn trong thời hiệu khởi kiện quy định tại khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Tòa án nhân dân khu vực 14, tỉnh Đắk Lắk thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 3, khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại năm 2025.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Vương Q và kháng cáo của người bị kiện. Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng thửa đất thu hồi:
Thửa đất số 183, tờ bản đồ số 02 bản đồ trích đo địa chính năm 2022. Diện tích thửa đất 474,4m², có nguồn gốc do vợ chồng bà Phạm Thị S (bố mẹ ông Q) nhận chuyển nhượng từ ông Kiều Văn K vào năm 1990; năm 1991 xây dựng nhà sử dụng ổn định đến nay, không xảy ra tranh chấp. UBND huyện T xác định bà Phạm Thị S đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đủ điều kiện để được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất theo Điều 79 Luật đất đai năm 2013.
Thực hiện dự án thành phần đoạn Q – C thuộc dự án XDCT đường bộ cao tốc Bắc Nam phía Đông giai đoạn 2021 – 2025, hộ gia đình bà S bị thu hồi đợt 1 là 445,1m², thu hồi đợt 2 là 5,4m², diện tích đất còn lại 23,9m2.
Theo bảng Sơ họa tài sản bị ảnh hưởng đề ngày 19/12/2022, Biên bản kiểm kê đất đai, tài sản đề ngày 29/12/2022, Bảng tính chi tiết giá trị bồi thường, hỗ trợ đất đai tài sản gắn liền với đất bị thu hồi đề ngày 28/3/2024 của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ) thể hiện trên thửa đất số 183 tồn tại các công trình có kết cấu liền khối nhau gồm: Nhà 1 tầng ký hiệu số “1” có diện tích 3,5m x 8m, nhà 1 tầng ký hiệu số “2” có diện tích 6,5m x 6,6m, nhà 1 tầng ký hiệu số “3” có diện tích 6m x 3,9m, nhà 1 tầng ký hiệu số “5” có diện tích 5,4m x 2m, nhà tạm ký hiệu số “4” có diện tích 4,6m x 8m, công trình phụ “ký hiệu WC” và chái hiên.
[2.2] Số nhân khẩu sống tại căn nhà 05 gian nêu trên gồm: Hộ bà Phạm Thị S gồm bà S và con là Nguyễn Thị Quốc V, hộ bà Nguyễn Thị H gồm bà H và con là Nguyễn Toàn T1, hộ ông Nguyễn Vương Q có 01 nhân khẩu là ông Q. Lời khai của bà S, bà H và ông Quốc Đ xác định Gian nhà ký hiệu số “1”, “2”, “4”, “5” do bà S xây dựng, còn gian nhà ký hiệu số “3” do ông Q xây dựng vào năm 2017.
[2.3] Theo thông tin do Công an xã T cung cấp thì ông Q có nghề nghiệp là lái xe, hộ khẩu thường trú tại thôn P, xã T, tỉnh Đắk Lắk, chưa có nơi đăng ký tạm trú; “…ngày 18/11/2016 ông Q xin tách hộ riêng từ hộ mẹ ruột là hộ bà Phạm Thị S ra lập hộ mới nhưng ở chung nhà gồm 01 khẩu: Nguyễn Vương Q, sinh ngày 08/4/1987, chủ hộ”. Như vậy, ông Nguyễn Vương Q đã kết hôn và đã tách hộ theo quy định của luật cư trú từ trước khi có Thông báo thu hồi đất số 680/TB-UBND ngày 23/12/2022.
Trưởng thôn Phong H1 là ông Trần Văn B và những người dân sống tại địa phương gồm ông Phan Văn M, ông Trương Hữu H2, ông Nguyễn Văn Đ1 đều xác định ông Q từ nhỏ đến lớn sống chung nhà với bà S trên thửa đất số 183. Nhưng do đặc thù công việc nên không thường xuyên ở ổn định tại thôn P, xã T.
[2.4] Tại Báo cáo số 27/BC-UBND ngày 22/02/2024 của UBND xã A xác nhận “Hiện trạng thửa đất số: 183 hiện nay hộ gia đình Phạm Thị S đang trực tiếp sử dụng đất để ở sinh hoạt cùng 02 hộ của con”, Báo cáo số 90/BC-UBND ngày 30/5/2025 của UBND xã A xác nhận “+ Hiện trạng thửa đất số 183 hiện nay hộ gia đình Phạm Thị S đang trực tiếp sử dụng đất để ở sinh hoạt cùng 02 hộ của con…” và Báo cáo xác minh nội dung khiếu nại số 32/BC-TXM ngày 12/6/2025 của Tổ xác minh theo QĐ 1704 và QĐ 1940 của UBND huyện T có xác nhận “Hộ ông Q chỉ có 1 khẩu sống chung nhà với hộ bà S…”.
Như vậy, trên thực tế, ông Nguyễn Vương Q sinh sống trên thửa đất số 183, thuộc trường hợp sống nhờ trên đất người khác. Khi Nhà nước thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở và không có nơi ở nào khác trong địa bàn xã nơi có đất thu hồi. UBND xã T không chứng minh được ông Q còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn.
[2.5] Quy định về hỗ trợ tái định cư:
Thời điểm thu hồi đất và phê quyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là ngày 02/4/2024. Ngày 05/3/2024, UBND huyện T ban hành quyết định số 590 bố trí tái định cư cho các hộ gia đình, cá nhân thuộc đối tượng phải di chuyển chỗ ở để thực hiện dự án nên cấp sơ thẩm áp dụng các quy định đang có hiệu lực tại thời điểm này là đúng quy định.
Khoản 4 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định: “Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi thì được Nhà nước bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định.”.
Khoản 4 Điều 4 Quyết định số 39/2021/QĐ-UBND ngày 21/9/2021 của UBND tỉnh P quy định: “4. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưngkhông đủ điều kiện được bồi thường về đất ở (bao gồm cả trường hợp có nhà ở trên đất của người khác), nếu không có chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thu hồi thì được Nhà nước giao đất ở có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính thu tiền sử dụng đất được xác định bằng giá đất trong bảng giá đất nhân (x) với hệ số điều chỉnh giá đất theo quy định hiện hành của Ủy ban nhân dân tỉnh; giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở do Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định theo từng dự án, công trình cụ thể.”
Tại phiên tòa sơ thẩm, người bị kiện trình bày: Khu tái định cư có 26 lô, đã giao 15 lô, còn 11 lô. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện người bị kiện cũng xác nhận nội dung trên. Như vậy, quỹ đất tái định cư để thực hiện công tác hỗ trợ tái định cư vẫn còn.
[2.6] Đối chiếu các quy định nêu trên, hiện tại quỹ đất tái định cư đang còn nên trường hợp ông Q đủ điều kiện để được giao đất ở có thu tiền sử dụng đất không thông qua đấu giá quyền sử dụng đất.
UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ) cho rằng việc ông Q là hộ đơn thân, đồng thời cho rằng ông Q không chứng minh phần sở hữu của mình trong thửa đất bà S đang ở nên không xem xét giải quyết nhu cầu về đất ở đối với ông Q là không phù hợp, bởi không có quy định nào hạn chế điều kiện được giao đất ở có thu tiền sử dụng đất đối với người làm ăn xa hoặc hộ gia đình đơn thân.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Vương Q, hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 2637/QĐ-UBND ngày 25/6/2025 của Chủ tịch UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ) và công văn số 1057/UBND ngày 14/4/2025 của UBND huyện T, tỉnh Phú Yên (cũ), buộc người có thẩm quyền thực hiện hỗ trợ tái định cư cho ông Nguyễn Vương Q theo quy định pháp luật là có căn cứ. Tuy nhiên hiện nay, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ thì thẩm quyền quyết định phê quyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được chuyển giao cho Chủ tịch UBND cấp xã, án sơ thẩm tuyên buộc UBND xã thực hiện là không đúng thẩm quyền. Do đó, cần sửa nội dung này cho phù hợp quy định của pháp luật.
[3] Biên bản phiên tòa thể hiện ông Q giữ nguyên yêu cầu buộc cơ quan có thẩm quyền thực hiện hỗ trợ tái định cư theo quy định và rút yêu cầu giao đất tái định cư có thu tiền sử dụng đất nên cấp sơ thẩm đã “Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Vương Q về việc yêu cầu Tòa án công nhận trường hợp của ông Nguyễn Vương Q đủ điều kiện được giải quyết giao đất tái định cư (hộ phụ) có thu tiền sử dụng đất”. Việc đình chỉ là không cần thiết bởi trong vụ án hành chính, yêu cầu thực hiện hỗ trợ tái định cư hay yêu cầu giao đất tái định cư có thu tiền sử dụng đất không phải là các yêu cầu độc lập mà đều là yêu cầu xem xét giải quyết nhu cầu được giao đất để ở. Tòa án có thẩm quyền xem xét các quy định để quyết định. Do đó, cần điều chỉnh lại theo hướng không tuyên đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện để tránh vướng mắc khi thi hành án.
[4] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cấp sơ thẩm đã giải quyết đảm bảo đúng quy định, quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của người bị kiện, cần giữ nguyên quyết định của án sơ thẩm.
[5] Về án phí phúc thẩm: Do không được chấp nhận kháng cáo nên người kháng cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 11/2026/HC-PT NGÀY 11/6/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN TỈNH ĐẮK LẮK]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 11/2026/HC-PT
…………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn