Feel free to go with the truth

Trang chủ / Hành chính / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy QĐ xử phạt vi phạm hành chính và thông báo không được hoàn thuế do không có căn cứ xác định các hợp đồng xuất khẩu vô hiệu, doanh nghiệp đã cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ theo quy định

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy QĐ xử phạt vi phạm hành chính và thông báo không được hoàn thuế do không có căn cứ xác định các hợp đồng xuất khẩu vô hiệu, doanh nghiệp đã cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và các đương sự, các quy định pháp luật hiện hành, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện các thủ tục tố tụng theo quy định của Luật Tố tụng hành chính, thu thập tài liệu chứng cứ, mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ, đối thoại và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.

[2] Về đối tượng khởi kiện, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quyết định về việc xử phạt vi phạm hành chính số 4786/QĐ-CT ngày 04/11/2024 của Cục trưởng và Thông báo số 20739/TB-CTNAN ngày 5/11/2024 của về việc hồ sơ không được hoàn thuế là các quyết định của cơ quan hành chính nhà nước cùng phạm vi địa giới hành chính với Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An theo khoản 1 Điều 30 và khoản 3 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do việc không hoàn thuế cho là tiền lãi do chậm hoàn thuế theo lãi suất của ngân hàng tạm tính đến ngày khởi kiện là 6.146.760.146 đồng. Căn cứ Điều 7 của Luật Tố tụng hành chính được xem xét giải quyết trong vụ án hành chính.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 05/11/2024, gửi đơn khởi kiện vụ án hành chính yêu cầu Toà án huỷ Quyết định về việc xử phạt vi phạm hành chính số 4786/QĐ-CT ngày 04/11/2024 của Cục trưởng và Thông báo số 20739/TB- CTNAN ngày 5/11/2024 của là đang trong thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính theo điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính.

[4] Về nội dung:

4.1] Xét tính hợp pháp của Quyết định về việc xử phạt vi phạm hành chính số 4786/QĐ-CT ngày 04/11/2024 của Cục trưởng; Thông báo số 20739/TB- CTNAN ngày 5/11/2024 của về việc hồ sơ không được hoàn thuế và yêu cầu buộc thực hiện hoàn thuế VAT xuất khẩu tinh bột sắn cho . Xét thấy:

Ngày 05/6/2021, gửi hồ sơ đề nghị hoàn thuế, với kỳ hoàn thuế từ tháng 11/2019 đến tháng 05/2021 đến đối với các lô hàng tinh bột sắn xuất khẩu sang Trung Quốc ký kết với, và .

Theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 9 và Điều 16 Thông tư 219/2013/TT- BTC ngày 31/12/2013 của về điều kiện khấu trừ, hoàn thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu để được hoàn thế giá trị gia tăng đầu vào đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

– Hợp đồng bán hàng hóa.

– Tờ khai hải quan.

Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng.

Hóa đơn giá trị gia tăng bán hàng hóa, dịch vụ hoặc hóa đơn xuất khẩu hoặc hóa đơn với tiền gia công của hàng hóa gia công.

Đối chiếu với hồ sơ đề nghị hoàn thuế của và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy rằng:

– Đối với hợp đồng, hóa đơn mua hàng hóa: có đầy đủ hóa đơn mua hàng, số thuế giá trị gia tăng hàng hóa, dịch vụ mua vào ghi trong hóa đơn đúng với số liệu trên tờ khai thuế giá trị gia tăng tháng 11/2019 đến tháng 5/2021. Tất cả hàng hóa phục vụ hoạt động xuất khẩu tinh bột sắn, cước vận chuyển, phí bảo hiểm hàng hóa đều có hợp đồng ký kết giữa bên mua là (nay là ) và bên bán. Trong đó, quy định cụ thể số lượng, đơn giá, mặt hàng, phương thức thanh toán và điều kiện, trách nhiệm của hai bên. Hàng hóa xuất khẩu mua của các doanh nghiệp sản xuất trong nước.

– Đối với chứng từ thanh toán tiền hàng xuất khẩu: Việc thanh toán hợp đồng được thực hiện qua Ngân hàng thể hiện: thư ủy thác, chuyển cho – về việc trích tài khoản tiền gửi của mở tại -, chuyển cho Ngân hàng của là để thanh toán tiền hàng xuất khẩu. Bên nhập khẩu hàng hóa đã thanh toán đầy đủ tiền hàng cho, ủy quyền cho bên thứ 3 là các cá nhân chuyển tiền mua hàng xuất khẩu (điều khoản thanh toán được bổ sung tại các phụ lục hợp đồng), có đầy đủ chứng từ thanh toán qua ngân hàng chứng minh việc thanh toán tiền hàng xuất khẩu. có công văn gửi về việc cung cấp thông tin. – có công văn trả lời, theo đó các nội dung đề nghị xác minh phù hợp với hồ sơ của đơn vị cung cấp.

– Đối với tờ khai hải quan: Trong thời kỳ hoàn thuế đã mở 101 tờ khai xuất khẩu tương ứng với 34 hợp đồng xuất khẩu, tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu là 296.248.752.184đồng, đều qua . Tờ khai hàng hóa xuất khẩu ở tại toàn bộ tờ khai phân luồng kiểm tra mức 2 và được xác nhận thông quan. Đối chiếu với dữ liệu trao đổi giữa Cơ quan Hải quan và Cơ quan Thuế cho thấy các tờ khai Hải quan do Công ty cung cấp phù hợp với dữ liệu tra cứu. Ngày 20/9/2021, có công văn gửi – Quảng Ninh về việc phối hợp xác minh thông tin, đến ngày 07/01/2022, có công văn trả lời theo đó các nội dung đề nghị xác minh phù hợp với hồ sơ của đơn vị cung cấp.

– Đối với hóa đơn giá trị gia tăng bán hàng hóa: lập hóa đơn cho từng lần xuất khẩu gồm 101 hóa đơn kèm theo 101 Tờ khai hải quan. Các tiêu chí ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng như thông tin về doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp nhập khẩu, các thông tin về hàng hóa xuất khẩu: Tên hàng hóa, đơn vị tính, số lượng, đơn giá, tiền hàng phù hợp với thông tin trên hợp đồng xuất khẩu cũng như thông tin trên tờ hải quan.

– Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa giữ và các đối tác Trung Quốc: Trong thời kỳ hoàn thuế từ tháng 11/2019 đến tháng 5/2021, đề nghị hoàn thuế với các lô hàng tinh bột sắn xuất khẩu sang Trung Quốc ký kết với có địa chỉ tại ; tài khoản thanh toán của bên mua hàng: 6228482826077956361 tại – Trung Quốc; có địa chỉ tại: ; tài khoản thanh toán của bên mua hàng: 6222022107000555829 tại; có địa chỉ tại: ; tài khoản thanh toán của bên mua hàng: 706201040004294

Các điều khoản chính tại hợp đồng như sau: Phương thức giao nhận; địa điểm giao hàng; phí bốc dỡ hàng; phương thức thanh toán; đồng tiền thanh toán là và điều khoản chung.

có công văn số 5642/CT- TTKT2 gửi Vụ hợp tác quốc tế – Tổng cục Thuế về việc xác minh tình trạng hoạt động của người nộp thuế nước ngoài; xác minh tính trung thực của các hoạt động giao dịch mua bán tinh bột sắn theo các Hợp đồng xuất khẩu giữa và các bên nhập khẩu. Ngày 18/11/2021, có Công văn số 7133/CT-TTKT2 gửi về việc bổ sung thông tin tài liệu gồm bảng kê chi tiết các thông tin đề xuất trao đổi với Cơ quan thuế nước ngoài và bổ sung yêu cầu xác minh gồm xác minh đối chiếu thông tin của người nộp thuế nước ngoài và xác minh các cá nhân người chuyển tiền tại các chứng từ thanh toán biên mậu có quan hệ gì với Công ty nhập khẩu tại Trung Quốc.

Ngày 26/5/2023, có văn bản số 2094/TCT-HTQT gửi trả lời về nội dung xác minh và cung cấp các thư trả lời của Cơ quan thuế Trung Quốc đối với các trường hợp khác có đối tượng Trung Quốc trùng với ba đối tượng Trung Quốc có liên quan đến, gồm:

Công văn số 130/TCT-HTHQ ngày 13/01/2022 của gửi chuyển thư trả lời của Cơ quan thuế Trung Quốc liên quan đến thông tin về và nêu: Theo điều tra của Cơ quan thuế Trung Quốc thì có tồn tại, không tồn tại. Theo DO LI thì họ không nhập khẩu tinh bột sắn của trong giao đoạn từ tháng 6/2020 đến tháng 3/2021.

Công văn số 1940/TCT-HTHQ ngày 06/6/2022 của gửi. gửi thông tin Cơ quan thuế Trung Quốc cung cấp đối với đề nghị hỗ trợ xác minh thông tin liên quan đến đối tác của . Theo tài liệu của Cơ quan thuế Trung Quốc gửi kết luận năm 2020, chưa bao giờ nhập khẩu tinh bột sắn từ Việt nam và theo xác minh sao kê ngân hàng thì không có hồ sơ chuyển tiền nào được ủy quyền cho cá nhân,,.

Xét thấy tại Bảng kê chi tiết các thông tin đề nghị trao đổi với cơ quan thuế nước ngoài kèm theo Công văn số 7133/CT-TTKT2 ngày 18/11/2021 của thời gian có hợp đồng xuất khẩu với từ ngày 26/2/2019 đến tháng 7 năm 2020; với từ ngày 17/12/2019 đến ngày 26/5/2021; với từ ngày 01/6/2020 đến ngày 03/7/2020.

Tại bản ghi nhớ của Cơ quan quản lý thuế nhà nước Trung Quốc ngày 31/12/2021 thể hiện thời kỳ kiểm tra từ tháng 6/2020 đến tháng 3/2021 đối với và có thời gian không cùng thời gian xuất khẩu giữa với và được đề nghị trao đổi thông tin với Cơ quan quản lý thuế Trung Quốc.

Tại bản ghi nhớ của Cơ quan quản lý thuế nhà nước Trung Quốc ngày 17/5/2022 thể hiện thời kỳ kiểm tra từ tháng 08/2020 đến tháng 01/2021 đối với, cũng có thời gian không cùng thời gian xuất khẩu giữa với, được đề nghị trao đổi thông tin với Cơ quan quản lý thuế Trung Quốc.

Như vậy, căn cứ kết quả xác minh này để khẳng định, không có hoạt động nhập khẩu với giai đoạn từ tháng 2/2019 đến tháng 5/2021 là chưa đủ cơ sở.

Mặt khác ngày 26/4/2025, Chi cục thuế khu vực X gửi văn bản cung cấp thông tin nội dung Công văn số 110/CV-PC03 ngày 28/4/2022 của Phòng Cảnh sát kinh tế như sau:

“Phòng Cảnh sát Kinh tế nhận được Công văn số 2005/CSKT-P8 ngày 15/7/2022 của về việc chuyển thông tin nghi vấn gian lận vi phạm trong việc hoàn thuế GTGT đối với 02 Công ty gồm:, MST 2901176204 và, MST 2900326294 trong việc xuất khẩu tinh bột sắn sang Trung Quốc.

Căn cứ vào nội dung Công văn trên, ngày 16/7/2022, có công văn số 607/CSKT gửi về việc phối hợp công tác và thu thập tài liệu. Ngày 04/8/2022, giao một số bản sao tài liệu, hồ sơ liên quan đến và cho

Hiện nay, sau khi nghiên cứu hồ sơ tài liệu do chuyển, nhận thấy chưa phát hiện được dấu hiệu tội phạm liên quan 02 Công ty nói trên”.

Ngoài ra, (Chi cục thuế khu vực X) căn cứ vào Công văn số 77/2023/CV- TA ngày 08/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An để xác định hợp đồng mua bán hàng giữa với, và là vô hiệu do bên mua hàng được Cơ quan Thuế của Trung Quốc xác định là không tồn tại hoặc có tồn tại nhưng chưa từng nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam. Xét thấy Công văn số 77/2023/CV-TA ngày 08/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trả lời với nội dung do tình huống mô tả chưa có đầy đủ dữ liệu nên chưa có căn cứ để khẳng định chắc chắn nên chỉ có giá trị tham khảo. Mặt khác các hợp đồng mua bán hàng hóa của với các doanh nghiệp của Trung Quốc được xác định là có thật và chưa phát hiện được dấu hiệu tội phạm, chưa bị Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng vô hiệu.

Như vậy, đã cũng cấp các điều kiện hoàn thuế theo quy định của Thông tư 219/2013 về hoàn thuế giá trị gia tăng, không có dấu hiệu vi phạm pháp luật về hoạt động xuất nhập khẩu; không có quy định hồ sơ hoàn thuế phải có xác nhận của khách hàng nước ngoài mới đủ điều kiện được hoàn, đồng thời doanh nghiệp xuất khẩu cũng không có nghĩa vụ cũng như năng lực xác minh đối tác nước ngoài khi ký hợp đồng xuất khẩu. Hợp đồng mua bán hàng hóa trên là có thật, chưa bị Tòa án hoặc cơ quan có thẩm quyền tuyên bố là vô hiệu nhưng cho rằng các Hợp đồng mua bán này vô hiệu theo Điều 117 của Bộ luật dân sự để ban hành Quyết định về việc xử phạt vi phạm hành chính số 4786/QĐ-CT ngày 04/11/2024 của Cục trưởng ; Thông báo số 20739/TB-CTNAN ngày 5/11/2024 của về việc hồ sơ không được hoàn thuế là không đủ căn cứ, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của hủy quyết định xử phạt vi phạm hành chính và Thông báo không được hoàn thuế của, buộc tỉnh thực hiện nhiệm vụ công vụ theo quy định.

Đối với yêu cầu của yêu cầu Chi C thuế Khu vực X bồi thường thiệt hại do việc không hoàn thuế cho là tiền lãi do chậm hoàn thuế theo lãi suất ngân hàng tính đến ngày khởi kiện với số tiền 6.146.760.146 đồng. Tại phiên tòa sơ thẩm mở ngày 14/3/2025, trình bày trường hợp được hoàn thuế giá trị gia tăng thì yêu cầu bồi thường thiệt hại. Vì yêu cầu của được chấp nhận nên không có yêu cầu bồi thường thiệt hại. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu này của .

[5] Về án phí: Chi cục thuế khu vực X phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 17/2024/HC-ST NGÀY 8/5/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN TỈNH NGHỆ AN]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 17/2024/HC-ST
………………….

Luật sư tại Đà Nẵng:

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế:

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan