Feel free to go with the truth

Trang chủ / Hành chính / NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY- Huỷ bản án khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai do Toà án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận và tình trạng pháp lý dự án

NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY- Huỷ bản án khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai do Toà án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, hồ sơ đăng ký cấp giấy chứng nhận và tình trạng pháp lý dự án

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của Công ty TNHH thành phố M làm trong hạn luật định, thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

[2] Các đương sự có đơn xin vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính năm 2015.

[3] Về nội dung kháng cáo của Công ty TNHH thành phố M: [3.1] Hồ sơ vụ án thể hiện:

Ngày 06/7/2011, Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 1470/QĐ UBND thu hồi diện tích 196.467m2 (19,6ha) gồm thửa số 3/1.009m2, thửa số 7/156.221m2, thửa số 57/39.237m2 tại phường H, thành phố P và giao diện tích đất trên cho Trung tâm phát triển quỹ đất tỉnh để tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định; với mục đích sử dụng đất là đất sản xuất kinh doanh.

Ngày 20/6/2017, Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 1653/QĐ-UBND về việc thu hồi đất khu đất có diện tích 196.467m2 tại phường H, thành phố P để giao lại cho Ủy ban nhân dân thành phố P quản lý.

Người khởi kiện bà Nguyễn Thị N trình bày: Phần đất 50.832,4m2 có nguồn gốc do vợ chồng bà N khai hoang và nhận chuyển nhượng một phần từ năm 2003 (không có giấy tờ nhận chuyển nhượng), sau đó tiến hành khai khẩn, trồng cây đào và một số loại cây lâu năm khác. Năm 2020, bà N nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân phường H xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 50.832,4m2 nhưng đến nay vẫn chưa được giải quyết. Theo kết quả đo đạc, diện tích nằm trong ranh Quyết định số 1653/QĐ-UBND ngày 20/6/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh B là: 38.494,6m2. Do đó, bà N khởi kiện yêu cầu hủy một phần Quyết định số 1470/QĐ-UBND ngày 06/7/2011 và hủy một phần Quyết định số 1653/QĐ-UBND ngày 06/7/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh B đối với phần diện tích 38.494,6m2 mà bà N cho rằng thuộc quyền sử dụng của bà N nhưng nằm trong ranh 02 Quyết định này.

Ý kiến của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B trình bày: Phần diện tích đất bà N đang tranh chấp là đất chưa sử dụng (đồi động) do Nhà nước quản lý.

[3.2] Về thu thập chứng cứ liên quan đến nguồn gốc đất, lấy ý kiến khu dân cư về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, thủ tục, nội dung xác nhận của Ủy ban nhân dân phường H liên quan đến nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của bà Nguyễn Thị N:

Bà N không xuất trình được giấy tờ về nguồn gốc sử dụng đất, đăng ký kê khai, đóng thuế sử dụng đất, không xuất trình được một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP: a) Biên lai nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất; b) Biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc sử dụng đất, biên bản hoặc quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong việc xây dựng công trình gắn liền với đất; c) Quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành, quyết định thi hành bản án của cơ quan Thi hành án đã được thi hành về tài sản gắn liền với đất; d) Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực thi hành; biên bản hòa giải tranh chấp đất đai có chữ ký của các bên và xác nhận của đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất; đ) Quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có liên quan đến việc sử dụng đất; e) Giấy tờ về đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú dài hạn tại nhà ở gắn với đất ở; Giấy chứng minh nhân dân hoặc Giấy khai sinh, giấy tờ nộp tiền điện, nước và các khoản nộp khác có ghi địa chỉ nhà ở tại thửa đất đăng ký; g) Giấy tờ về việc giao, phân, cấp nhà hoặc đất của cơ quan, tổ chức được Nhà nước giao quản lý, sử dụng đất; h) Giấy tờ về mua bán nhà, tài sản khác gắn liền với đất hoặc giấy tờ về mua bán đất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên liên quan; i) Bản đồ, sổ mục kê, tài liệu điều tra, đo đạc về đất đai qua các thời kỳ; k) Bản kê khai đăng ký nhà, đất có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã tại thời điểm kê khai đăng ký).

Tại khoản 4 Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai do Chính phủ ban hành ngày 15/5/2014 quy định về Căn cứ xác định việc sử dụng đất ổn định:

“4. Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có

yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất”.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào văn bản số 302/UBND-ĐC ngày 01/6/2022 của Ủy ban nhân dân phường H để xác định thửa đất bà N khởi kiện (diện tích 45.709,6m2) có nguồn gốc do ông Đặng Hùng A và bà Nguyễn Thị N nhận chuyển nhượng vào năm 2002 – 2003 và khai hoang thêm trước ngày 01/7/2004, sử dụng liên tục cho đến nay. Tại Văn bản số 302/UBND-ĐC ngày 01/6/2022 của Ủy ban nhân dân phường H căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ để xác nhận nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng đất cho bà N bao gồm: Biên bản làm việc ngày 15/7/2021 của Ủy ban nhân dân phường H với hộ ông Đặng Hùng A, bà Nguyễn Thị N; Biên bản làm việc ngày 25/4/2022 của Ủy ban nhân dân phường H làm việc với ông Đặng Hùng A, bà Nguyễn Thị N; Bản đồ hiện trạng vị trí thửa đất được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai đo đạc và ký duyệt ngày 19/8/2021; Biên bản ngày 30/7/2021 của Ủy ban nhân dân phường H phối hợp với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ1 tiến hành kiểm tra, đo dạc xác định diện tích đất của hộ ông Đặng Hùng A, bà Nguyễn Thị N; Biên bản ngày 30/7/2021 của Ủy ban nhân dân phường H phối hợp với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ1 tiến hành kiểm tra, đo đạc xác định diện tích đất của hộ ông Đặng Hùng A, bà Nguyễn Thị N; Biên bản ngày 28/10/2021 của Ủy ban nhân dân phường H về việc tổ chức kiểm tra, xác minh hiện trạng thửa đất của hộ ông Đặng Hùng A, bà Nguyễn Thị N; Biên bản ngày 28/10/2021 của Ủy ban nhân dân phường H về việc tổ chức kiểm tra, xác minh hiện trạng thửa đất của hộ ông Đặng Hùng A, bà Nguyễn Thị N; Biên bản ngày 29/4/2022 của Hội đồng xét tính pháp lý phường H về việc họp xét và kết luận nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của hộ ông Đặng Hùng A và bà Nguyễn Thị N, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập các Biên bản, bản đồ này để xem xét, đánh giá toàn diện các căn cứ mà Ủy ban nhân dân phường H dựa vào đó ban hành văn bản số 302/UBND-ĐC. Đồng thời, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập biên bản và các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của hộ ông Đặng Hùng A, bà Nguyễn Thị N theo quy định khoản 4 Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP là chưa đủ cơ sở để kết luận về nguồn gốc, quá trình quản lý sử dụng đất của ông Hùng A, bà N, chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án.

[3.3] Thu thập tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Đặng Hùng A, bà Nguyễn Thị N:

Ngày 28/9/2020, Ủy ban nhân dân phường H tiếp nhận hồ sơ đăng ký và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất của ông Đặng Hùng A theo Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả số 2020/9/28-422/TNHS (BL 35). Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập toàn bộ hồ sơ mà ông Hùng A nộp theo Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả số 2020/9/28-422/TNHS ngày 28/9/2020 nêu trên; chưa xác minh kết quả giải quyết hồ sơ do ông Hùng A nộp là thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án.

[3.4] Xác minh về tình trạng pháp lý Dự án Khu biệt thự Hàm Tiến của Công ty TNHH thành phố M:

Ngày 27/3/2009, Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp Giấy chứng nhận đầu tư số 48121000348 cho Công ty TNHH thành phố M thực hiện dự án Khu B tại phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận với diện tích sử dụng đất khoảng 42,95ha (BL 570).

Theo bà N trình bày thì hiện nay Công ty TNHH thành phố M đã bị thu hồi dự án nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ hiện nay Ủy ban nhân dân tỉnh B đã ban hành quyết định chấm dứt hoạt động và thu hồi chủ trương đầu tư dự án của Công ty TNHH thành phố M theo Giấy chứng nhận đầu tư số 48121000348 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 27/3/2009 hay chưa; Chưa thu thập tài liệu, chứng cứ, xác minh làm rõ tình trạng pháp lý hiện nay của Dự án Khu biệt thự H tại phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận là chưa đủ cơ sở xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, chưa đủ cơ sở giải quyết vụ án.

[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, để đảm bảo cho việc giải quyết vụ án cần phải thu thập tài liệu, chứng cứ bổ sung mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung, khắc phục được. Do đó, cần chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty TNHH thành phố M; không chấp nhận đề nghị của Đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại phiên tòa phúc thẩm, hủy Bản án hành chính sơ thẩm số 83/2024/HC-ST ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 410/2025/HC-PT NGÀY 29/09/2025 CỦA TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 410/2025/HC-PT NGÀY 29/09/2025

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

09 Nguyễn Huệ, Phường Thuận Hoá, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan