
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố P và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P còn trong hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần T7 và Công ty TNHH S vắng mặt đã có lời trình bày trong hồ sơ, không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 225 Luật tố tụng hành chính, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về quyền khởi kiện và thời hiệu khởi kiện:
[2.1] Bà T và ông V là vợ chồng theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 10/11/1998; đến ngày 05/12/2019 bà T và ông Vũ ly h theo bản án phúc thẩm số 39/2019/HNGĐ-PT. Do đó diện tích đất bị Ủy ban nhân dân huyện P (nay là hành phố P) thu hồi theo Quyết định số 1986/QĐ-UBND và Quyết định số 1990/QĐ-UBND, ngày 25/02/2011 là tài sản chung của bà T và ông V được tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Điều 27 Luật HNGĐ quy định: “…Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thoả thuận”. Như vậy, bà T được thực hiện các quyền của mình đối với tài sản là diện tích đất của bà và ông V tạo dựng được trong thời kỳ hôn nhân.
[2.2] Căn cứ tài liệu thu thập thể hiện: ngày 25/02/2011, Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ra Quyết định số 1986/QĐ-UBND và Quyết định số 1990/QĐ-UBND thu hồi của ông Đặng Lê Nguyên V 93.528,51m2 đất nông nghiệp tại ấp R, xã B để thực hiện Dự án Khu D tại xã B, thành phố P. Dự án này do Công ty Trách nhiệm hữu hạn S làm chủ đầu tư. Sau khi ra hai Quyết định thu hồi, Ủy ban nhân dân huyện P ban hành hai Quyết định bồi thường, hỗ trợ cho ông V; Quyết định số 2006/QĐ-UBND ngày 25/02/2011 và Quyết định số 1998/QĐ-UBND ngày 25/02/2011 để bồi thường, hỗ trợ diện tích đất cho ông Đặng Lê Nguyên V. Đại diện UBND thành phố P cho rằng trong thời gian ban hành các Quyết định này thì bà T biết và được ông V ủy quyền tham gia giải quyết khiếu nại theo “Giấy đồng ý ngày 19/8/2011”; Đồng thời, bà T cũng đã tham gia làm việc với Thanh Tra huyện P vào ngày 11/8/2011 nên thời hiệu khởi kiện đã hết. Tuy nhiên, bà T cho rằng bà không biết 2 diện tích đất trên bị thu hồi, vì Quyết định số 1986/QĐ-UBND và Quyết định số 1990/QĐ-UBND Ủy ban thu hồi đất của ông Đặng Lê Nguyên V không ghi tên của bà vào Quyết định. Đồng thời, diện tích 93.528,51m2 mà Ủy ban thu hồi theo hai quyết định là đất nông nghiệp tại ấp R, xã B (không ghi số tờ, số thửa) để thực hiện Dự án, trong khi đó “Giấy đồng ý” ông V ủy quyền thể hiện diện tích đất thửa số 5 và số 10, tờ bản đồ số 9, tại ấp B, xã B, huyện P. Còn đối với biên bản làm việc với Thanh tra huyện cũng không thể hiện gì về nội dung thu hồi đất nên bà cũng không biết việc thu hồi đất.
Hội đồng xét xử xét thấy: sau khi Ủy ban nhân dân huyện P trước đây ban hành các Quyết định thu hồi đất và Quyết định bồi thường thì ông V có ủy quyền cho ông Bùi Mai Quốc C tham gia việc khiếu nại thay cho ông (Giấy ủy quyền lập ngày 31/10/2011 có công chứng). Bên cạnh đó, ông V cũng lập “Giấy đồng ý” cho bà T thể hiện thửa đất số 5 và 10 tờ bản đồ số 9 tại ấp B, xã B. Trong khi đó, tại Quyết định số 1986/QĐ-UBND và Quyết định số 1990/QĐ-UBND, Ủy ban nhân dân huyện P thu hồi đất của ông V không ghi số thửa, số tờ bản đồ và địa chỉ đất thu hồi là Ấp R, xã B, huyện P. Mặt khác, “Giấy đồng ý” ông Vũ l cho bà T vào ngày 19/8/2011, nhưng Biên bản làm việc của Thanh T4 là vào ngày 11/8/2011 cho thấy“Giấy đồng ý” lập sau Biên bản làm việc. Ngoài ra, nội dung Biên bản làm việc của Thanh Tra với bà T cũng không thể hiện nội dung gì đến việc thu hồi đất của ông V, bà T. Từ cơ sở trên, xét thấy việc Ủy ban ban hành Quyết định thu hồi và bồi thường đất là tài sản chung của vợ chồng bà T và ông V tạo dựng được trong thời kỳ hôn nhân, nhưng chủ thể bị thu hồi chỉ có ông V, không ghi tên và thông báo cho bà T là không đúng quy định, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bà T. Đến khi bà T biết và khởi kiện nên Tòa cấp sơ thẩm xác định thời hiệu khởi kiện của các Quyết định và tư cách tham gia tố tụng của bà T là đúng quy định pháp luật.
[3] Về nội dung: xét tính hợp pháp của hai Quyết định thu hồi đất số 1986/QĐ-UBND và Quyết định số 1990/QĐ-UBND ngày 25/02/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố P.
[3.1] Việc thu hồi đất được thực hiện theo quy định tại Điều 39 Luật Đất đai. Khoản 1 Điều 39 Luật Đất đai quy định:
“1. Nhà nước thực hiện việc thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng sau khi quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố hoặc khi dự án đầu tư có nhu cầu sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.”
[3.2] Căn cứ văn bản trả lời nội dung đơn kiện của Ủy ban nhân dân thành phố P (Văn bản số 454/UBND –NCPC ngày 08/6/2022) xác định trình tự thủ tục thu hồi đất của ông V được thực hiện theo hướng dẫn tại điểm b khoản 2 Điều 36 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ. Điều 52, Điều 53 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ. Thấy rằng, tại thời điểm năm 2011, Nghị định số 69/2009/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/10/2009 đã bãi bỏ Điều 52, Điều 53 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ; nhưng Ủy ban nhân dân thành phố P vẫn áp dụng Điều luật không còn hiệu lực để thực hiện quy trình thu hồi đất đối với ông V là không phù hợp. Đồng thời, quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân thành phố P đối với ông V tại mục căn cứ không có căn cứ kế hoạch sử dụng đất hoặc nhu cầu sử dụng đất của Doanh nghiệp là Chủ đầu tư được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
[3.3] Quyết định thu hồi đất căn cứ vào Thông báo thu hồi đất số 17/TB- UBND ngày 19/01/2011, nhưng Ủy ban nhân dân thành phố P không cung cấp được biên bản giao Thông báo thu hồi đất; bà T và ông V cũng không nhận được thông báo này. Tuy nhiên, căn cứ vào quyết định thu hồi đất thì từ ngày ký thông báo thu hồi đến ngày ra quyết định thu hồi (ngày 25/02/2011) chỉ có 36 ngày là vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 39 Luật Đất đai:
“Trước khi thu hồi đất, chậm nhất là chín mươi ngày đối với đất nông nghiệp và một trăm tám mươi ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư.” … 3. Sau khi có Quyết định thu hồi đất và phương án bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt, được công bố công khai, có hiệu lực thi hành, người bị thu hồi đất phải chấp hành Quyết định thu hồi đất. Trường hợp người bị thu hồi đất không chấp hành Quyết định thu hồi đất thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất ra quyết định cưỡng chế. Người bị cưỡng chế thu hồi đất phải chấp hành quyết định cưỡng chế và có quyền khiếu nại”.
Đến thời điểm hiện nay, Ủy ban nhân dân thành phố P vẫn chưa có văn bản hay yêu cầu người bị thu hồi đất thực hiện quyết định thu hồi và cũng như cưỡng chế thu hồi đất (sau hơn 12 năm ra Quyết định thu hồi). Chứng tỏ từ thời điểm ban hành quyết định thu hồi đất cho đến nay, nhà đầu tư chưa có nhu cầu sử dụng đất. Như vậy việc thu hồi đất không đúng với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương.
Ủy ban nhân dân huyện P (nay là thành phố P) ban hành Quyết định thu hồi đất nhưng không căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hàng năm của thành phố P. Điều này, UBND thành phố P thực hiện không đúng theo quy định của pháp luật về việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất quy định tại Điều 29 Luật đất đai năm 2003 và được hướng dẫn theo quy định tại Điều 28, Điều 29 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP, ngày 29/10/2004 của Chính phủ thi hành Luật đất đai. Việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối với diện tích thu hồi, Điều 29 Nghị định 181/2004 quy định: “Diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án, công trình hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau ba năm không được thực hiện theo kế hoạch thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh hoặc huỷ bỏ và công bố”. Theo Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư của Ban Q2 cấp dự án cho Khu đô thị D – T tại khoản 8 Điều 1 quy định: “…đến cuối năm 2020 hoàn thành chuẩn bị đầu tư và xây dựng, hoàn chỉnh toàn bộ các hạn mục của công trình còn lại và đưa vào hoạt động ( nhà đầu tư thực hiện không đúng tiến độ như đã cam kết mà không có lý do chính đáng thì Ban Q2 sẽ chấm dứt hoạt động dự án)”. Như vậy thì thời hạn thực hiện dự án hoàn thành và đưa vào hoạt động của Công ty S là vào năm 2020, nhưng đến nay vẫn chưa triển khai thực hiện xong. Trong khi đó, diện tích đất theo Quyết định thu hồi là đất sản xuất nông nghiệp do vợ chồng ông V nhận chuyển nhượng lại của các hộ dân địa phương; và hiện tại diện tích đất này vợ chồng ông V vẫn đang quản lý sử dụng (theo biên bản thẩm định ngày 01/4/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang). Căn cứ tài liệu tại hồ sơ và lời trình bày của người đại diện thì ông V và bà T vẫn đang có nhu cầu được giao đất để thực hiện làm dự án nhưng chưa được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận.
[4] Đối với tất cả diện tích đất của ông V, bà T bị UBND huyện P ban hành các Quyết định thu hồi 1986/QD-UBND ngày 25/02/2011 thu hồi diện tích 43.305,74m2, Quyết định 1990/QÐ-UBND, ngày 25/02/2011 thu hồi diện tích 51.382,57m2 từ năm 2011; nhưng đến nay UBND thành phố P vẫn chưa thực hiện các quyết định thu hồi trên và ông V, bà T đang quản lý sử dụng là không phù hợp theo quy định của Luật đất đai và Nghị định của Chính phủ như đã phân tích trên. Do đó, việc thu hồi đất của Ủy ban nhân dân thành phố P đối với ông Đặng Lê Nguyên V tại các Quyết định số 1986/QĐ-UBND và Quyết định số 1990/QĐ- UBND ngày 25/02/2011 vi phạm về trình tự thủ tục, không có căn cứ pháp luật theo quy định tại Điều 39 Luật Đất đai và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003 của Chính Phủ.
[5] Xét tính hợp hợp pháp của hai Quyết định bồi thường số 2006/QĐ- UBND và Quyết định số 1998/QĐ-UBND ngày 25/02/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố P: như nhận định trên, các quyết định thu hồi đất được thực hiện không đúng trình tự thủ tục, không có căn cứ pháp luật nên bị hủy bỏ; vì vậy hai quyết định bồi thường hỗ trợ ban hành kèm theo cũng phải được hủy bỏ. Đồng thời, hai Quyết định giải quyết khiếu nại của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P số 5201/QĐ-UBND và số 5199/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông V ngày 24/10/2013 cũng bị hủy theo quy định.
Từ những nhận định trên, xét thấy Tòa cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Hoàng Diệp T là có căn cứ. Người bị kiện kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu của mình nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để chấp nhận; cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 595/2024/HC-PT NGÀY 19/06/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 595/2024/HC-PT NGÀY 19/06/2024
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
09 Nguyễn Huệ, Phường Thuận Hoá, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn