
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng và ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, xem xét kháng cáo của ông Nguyễn Việt T, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1]. Xem xét quan hệ pháp luật, đối tượng khởi kiện trong vụ án, xét thấy: Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/10/2019; tại các Đơn khiếu nại và các văn bản trình bày ý kiến có trong hồ sơ vụ án, ông Nguyễn Việt T yêu cầu có nội dung như sau: Trước đây, cha ông là ông Nguyễn Q1 (còn có tên là Nguyễn Viết Q1 và Nguyễn Viết K) có tạo lập được 01 ngôi nhà cấp 4, tọa lạc trên thửa đất số 34, tờ bản đồ số 7, diện tích 425,4m2 (nằm trong phần diện tích 1.196m2, loại đất thổ cư, thuộc tờ bản đồ số 7 xã C, nay là phường T), do bố ông T là ông Q1 đăng ký kê khai theo Chỉ thị 299/CT, trên đất đã xây dựng nhà ở. Năm 1982, UBND xã C và HTX N2 đến mượn nhà và đất của ông Q1 để mở lớp mẫu giáo của thôn, đến năm 1996 ông Q1 bị bệnh, đột ngột qua đời.
Khi mượn nhà và đất để làm trường mẫu giáo, gồm có bà Nguyễn Thị T1- nguyên Bí thư Đảng ủy xã, ông Kiều T4- Chủ nhiệm HTX, ông Nguyễn H1- Phó Chủ tịch UBND xã C, thay mặt cho Đảng ủy và UBND phường C, đến gặp ông Q1 để mượn nhà đất của ông Q1, nay ông T nhiều lần yêu cầu trả lại nhà đất của cha ông cho xã và Hợp tác xã mượn nhưng không được, do UBND phường T có Thông báo số
22/UBND ngày 26/02/2019 trả lời cho ông T với nội dung: Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 26 Luật đất đai năm 2013, UBND phường T không trả lại nhà đất của ông Q1, ông T tiếp tục khiếu nại lên UBND thành phố H thì Chủ tịch UBND thành phố H đã ban hành Thông báo số 292/TB-UBND ngày 26/4/2019 về việc không thụ lý giải quyết khiếu nại đòi lại nhà đất của ông. Do vậy, ông T khởi kiện yêu cầu: Buộc UBND phường T và UBND thành phố H trả lại nhà đất tại thửa đất số 34, tờ bản đồ số 07 đăng ký theo Chỉ thị 299/TTg, diện tích 425,4m2 mà trước đây UBND xã C và HTX N1 đã mượn của ông Q1. Đồng thời yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 22/UBND ngày 26/02/2019 của UBND phường T và Thông báo số 292/TB-UBND ngày 26/4/2019 của Chủ tịch UBND thành phố H.
Đến ngày 25/12/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Thông báo số 108/TLST-HC thụ lý vụ án theo Luật tố tụng hành chính, quá trình xem xét, đến ngày 26 tháng 9 năm 2023 Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã ban hành Bản án hành chính sơ thẩm số 176/2023/HC-ST, nội dung quyết định của Bản án đã bác toàn bộ các yêu cầu khởi kiện nêu trên của ông Nguyễn Việt T.
[1.2]. Xét thấy, với quan hệ pháp luật ông T khởi kiện về việc đòi lại tài sản là nhà đất và yêu cầu công nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất gắn liền đất là một quan hệ tranh chấp dân sự, theo quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự, đồng thời với việc khởi kiện nêu trên, ông T còn yêu cầu hủy các quyết định hành chính cá biệt của UBND phường T (Thông báo số 22/UBND ngày 26/02/2019) và của Chủ tịch UBND thành phố H (Thông báo số 292/TB-UBND ngày 26/4/2019) là đối tượng hành chính theo quy định tại Điều 3 Luật tố tụng hành chính. Theo hướng dẫn tại Văn bản số 02/GĐ- TANDTC ngày 19/9/2018 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn như sau: “Trong trường hợp này, Tòa án phải hướng dẫn đương sự rút đơn khởi kiện vụ án hành chính để khởi kiện vụ án dân sự. Trường hợp đương sự rút đơn khởi kiện vụ án hành chính, đồng thời có đơn khởi kiện vụ án dân sự tranh chấp về đất đai thì Tòa án căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 143 của Luật Tố tụng hành chính để đình chỉ giải quyết vụ án hành chính và xem xét, thụ lý đơn khởi kiện để giải quyết bằng vụ án dân sự theo thủ tục chung. Trường hợp đương sự không rút đơn khởi kiện thì Tòa án căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 141 của Luật Tố tụng hành chính tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ kết quả giải quyết vụ án dân sự. Trong trường hợp xét thấy việc giải quyết tranh chấp đất đai và giải quyết yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất liên quan đến nhau và có thể giải quyết trong cùng một vụ án thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào khoản 1 Điều 34 của Luật Tố tụng hành chính và Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết đồng thời hai yêu cầu của đương sự trong cùng một vụ án theo thủ tục chung do pháp luật tố tụng dân sự quy định”.
Trong trường hợp cụ thể nêu trên, ông T đồng thời khởi kiện đòi lại nhà đất và yêu cầu hủy quyết định hành chính thì phải thụ lý vụ vụ án theo thủ tục do Bộ luật tố tụng dân sự quy định, sau đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 34 của Luật Tố tụng hành chính và Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự để giải quyết đồng thời hai yêu cầu của đương sự trong cùng một vụ án mới đúng bản chất, cũng như đảm bảo được các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do thụ lý và xem xét giải quyết vụ án không đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, dẫn đến việc xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự trong vụ án là không đúng làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục.
[2]. Về thu thập, đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật:
[2.1.]. Về nguồn gốc và giấy tờ nhà đất của ông Nguyễn Q1:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như trình bày của người bị kiện, những người liên quan và người làm chứng thể hiện, trước đây vào năm 1979, ông Nguyễn Q1 (còn có tên là Nguyễn Viết Q1 và Nguyễn Viết K) được cấp thửa số 34, diện tích 1.196m2, loại đất thổ cư, thuộc tờ bản đồ số 7 xã C (nay là phường T), ông Q1 đã xây dựng nhà ở trên thửa đất, quá trình sử dụng ông Q1 đã đăng ký, kê khai theo Chỉ thị 299/TTg của Thủ tướng Chính phủ, có tên trong Sổ mục kê và Bản đồ đo đạc. Đối chiếu với quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013 và Điều 18 Nghị định số 43/CP của Chính phủ quy định thì trường hợp của ông Q1 sử dụng đất được xác định có giấy tờ được quy định tại Điều 100 Luật đất đai năm 2013. Như vậy, có cơ sở xác định phần diện tích đất ông T đang yêu cầu có diện tích 425,4m2 là một phần đất của thửa số 34, diện tích 1.196m2, loại đất Thổ cư, trên đất có nhà ở xây dựng từ năm 1979, nguồn gốc đất là của ông Nguyễn Q1 được Nhà nước giao (cấp). Nhưng quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá, làm rõ những loại giấy tờ về nhà, đất của ông Q1.
[2.2]. Xem xét về giao dịch mượn nhà đất của ông Nguyễn Q1:
Khi mượn nhà đất, giữa UBND xã C và HTX N2 với ông Q1 không lập hợp đồng, theo trình bày của bà Nguyễn Thị T1- nguyên Bí thư Đảng ủy xã, ông Kiều T4 – Chủ nhiệm HTX, ông Nguyễn H1 – Phó Chủ tịch UBND xã C là những người có trách nhiệm tại thời điểm năm 1982, đã thay mặt cho Đảng ủy và UBND phường C, đến gặp ông Q1 để mượn nhà đất của ông Q1, về tư cách tham gia tố tụng cần xác định họ là những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quan hệ dân sự, về nội dung, cần làm rõ việc ông Q1 cho mượn nhà đất hay là đã hiến nhà đất, nhà đất của ông Q1 có thuộc đối tượng bị cải tạo hoặc bị trưng thu, trưng dụng hay không, để giải quyết vụ án đúng quy định của Bộ luật dân sự, Luật nhà ở.
[2.3.] Tại Thông báo số 22/UBND ngày 26/02/2019 của UBND phường T, cũng như tại Thông báo số 292/TB-UBND ngày 26/4/2019 của Chủ tịch UBND thành phố H trả lời cho ông T có nội dung:“căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 26 Luật đất đai năm 2013” và viện dẫn Công văn số 1337/UBND ngày 02/5/2018 của UBND thành phố H, sau đó còn có Quyết định giải quyết khiếu nại số 2149/QĐ-UBND ngày 17/9/2018 của Chủ tịch UBND thành phố H, nhưng quá trình giải quyết quan hệ dân sự trong vụ án, UBND thành phố H và UBND phường T không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh ông Q1 đã “Hiến” nhà đất để làm trường mẫu giáo, chỉ dựa vào hồ sơ giải quyết tranh chấp giữa bà Huỳnh Thị C1 (Bằng) với ông Kiều H3 và căn cứ vào Báo cáo số 26/BC-ĐC ngày 27/7/1999 của Phòng địa chính thị xã H để cho rằng ông Q1 đã “chuyển nhượng” nhà đất, được hiểu ông Q1 đã “hiến đất” là suy luận thiếu căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm cũng không thu thập chứng cứ để xác định nhà đất của ông Q1 đã thực hiện chính sách theo quy định tại khoản 5 Điều 26 Luật đất đai năm 2013 hay không. Hơn nữa, Công văn số 1337/UBND ngày 02/5/2018 của UBND thành phố H và Quyết định giải quyết khiếu nại số 2149/QĐ-UBND ngày 17/9/2018 của Chủ tịch UBND thành phố H là những quyết định hành chính có liên quan trong giải quyết quan hệ dân sự nhưng chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Mặc khác, toàn bộ các Quyết định hành chính nêu trên của Chủ tịch và UBND thành phố H không đề cập đến ngôi nhà 03 gian của ông Q1, chỉ cho rằng đã nhiều lần sửa chữa, Trường M, không có hồ sơ về đất đai cũng như tài sản trên đất, Tòa án cấp sơ thẩm cũng không xem xét, đánh giá gì về tài sản gắn liền trên đất là của ai.
Với những phân tích trên, nhưng tại Bản án sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Việt T là không đúng pháp luật.
Từ những nhận định nêu trên, xét thấy, Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, thu thập, đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật không đúng, với những thiếu sót, vi phạm nêu trên, Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục, bổ sung, do vậy, trên cơ sở đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông T, bà S, hủy toàn bộ Bản án hành chính sơ thẩm, giao hồ sơ về cho Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam thụ lý lại vụ án và xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật.
[3]. Do hủy Bản án sơ thẩm vụ nên các nội dung, yêu cầu khác của ông Nguyễn Việt T, bà Nguyễn Thị S; án phí sơ thẩm; chi phí tố tụng sẽ được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét khi giải quyết lại vụ án.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 359/2024/HC-PT NGÀY 20/9/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 359/2024/HC-PT
………………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn