
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1.1] Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, việc kháng cáo vẫn trong thời hạn quy định, đơn kháng cáo có nội dung, hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 273, 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để thụ lý, xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Vũ Quốc C và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn D đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Xuân T, bà Đinh Thị Đ, ông Nguyễn Hoàng H1, ông Nguyễn Tấn H2 có yêu cầu giải quyết vắng mặt; căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt họ.
[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền 25.269.703.774 đồng và rút yêu cầu kháng cáo đối với số tiền này, người đại diện hợp pháp của bị đơn đồng ý việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đối với số tiền 25.269.703.774 đồng; căn cứ Điều 299 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết một phần vụ án dân sự phúc thẩm đối với số tiền trên.
[2] Về nội dung:
[2.1] Nguyên đơn bà Nguyễn Xuân H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn là vợ chồng ông Nguyễn Duy B, bà Phan Thanh V có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn số tiền 31.900.000.000 đồng, không có yêu cầu trả tiền lãi. Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là biên bản chốt nợ ngày 21/6/2025 (bút lục số 25, 123-134), sao kê tài khoản ngân hàng.
Theo chứng cứ nguyên đơn cung cấp là tờ giấy có tiêu đề “Tổng chuyển tiền C.V – A B1” gồm 24 trang giấy thể hiện việc bà H, ông T, B2 (bạn bà H) chuyển tiền cho ông B1, bà V và bà V chuyển trả tiền cùng tiền lãi trả cho bà H từ ngày 19/10/2022 đến ngày 21/6/2025; tờ giấy này do bà H viết và bà V ký, ghi họ tên tại trang số 24, còn từ trang 01 – 23 không có chữ ký nháy của bà V.
Tại phần cuối của trang 24 có nội dung: “… Tổng cộng đến ngày 21/6/2025 chị Vân B3 có nhận của em H số tiền còn lại là 30 tỷ 900 triệu đồng, riêng phát sinh thêm 1 tỷ đồng. Theo danh sách trên từ số (1) đến số (24) tổng cộng số tiền giữa hai chị em chuyển qua lại bao gồm gốc và lãi tổng chốt cuối còn lại số tiền chị V còn giữ của H là 31 tỷ 900 triệu (ba mươi mốt tỷ chín trăm triệu đồng)”.
Tại cấp sơ thẩm, bị đơn cho rằng nguyên đơn chuyển khoản cho bị đơn ông B3, bà V 337.912.153.818 đồng (ba trăm ba mươi bảy tỷ chín trăm mười hai triệu một trăm năm mươi ba nghìn tám trăm mười tám đồng) và chuyển khoản cho bà V 999.999.998 đồng (chín trăm chín mươi chín triệu chín trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi tám đồng), bị đơn đã chuyển khoản cho nguyên đơn 421.690.243.894 đồng (bốn trăm hai mươi mốt tỷ sáu trăm chín mươi triệu hai trăm bốn mươi ba nghìn tám trăm chín mươi bốn đồng), số tiền bị đơn đã chuyển khoản cho nguyên đơn chênh lệch 82.778.090.078 đồng (tám mươi hai tỷ bảy trăm bảy mươi tám triệu không trăm chín mươi nghìn không trăm bảy mươi tám đồng).
Trình bày của nguyên đơn, bị đơn về số tiền hai bên đã chuyển cho nhau từ ngày 19/10/2022 đến ngày 21/6/2025 có mâu thuẫn với nhau; tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn từ chối đối chất.
Ngày 27/8/2026, Tòa án cấp phúc thẩm ra Thông báo về việc yêu cầu cung cấp chứng cứ số 13748/TB-TA yêu cầu nguyên đơn cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ:
Bà Nguyễn Xuân H cung cấp tài liệu, giấy tờ chứng minh số tiền đã chuyển cho ông Nguyễn Duy B, bà Phan Thanh V từ ngày 19/10/2022 đến ngày 21/6/2025 theo giấy ngày 21/6/2025. Trường hợp bà H chuyển khoản cho ông B, bà V thì cung cấp bảng sao kê tài khoản đối ứng giữa tài khoản của bà H và người khác bên bà H (nếu có) với ông B, bà V và người khác bên ông B, bà V (nếu có).
Từ ngày 19/10/2022 đến ngày 21/6/2025 (theo giấy ngày 21/6/2025), bà Nguyễn Xuân H, ông Nguyễn Xuân T, bà Đinh Thị Đ, ông Nguyễn Hoàng H1, ông Nguyễn Tấn H2, người khác bên bà H (nếu có) đã chuyển cho ông Nguyễn Duy B, bà Phan Thanh V, người khác bên ông B, bà V (nếu có) bao nhiêu tiền, đây là tiền gì, chuyển tiền cho nhau với mục đích gì.
Tại sao ông Nguyễn Duy B, bà Phan Thanh V trả tiền lãi cho bà Nguyễn Xuân H.
Tiền lãi bà V, ông B và người khác bên bà V, ông B (nếu có) chuyển cho bà H từ ngày 22/10/2022 đến ngày 21/6/2025 là bao nhiêu tiền, của khoản nợ nào, thời hạn thanh toán nợ, mức lãi suất của từng khoản nợ (yêu cầu liệt kê cụ thể từng khoản nợ và tiền lãi của từng khoản nợ).
Số tiền chốt đến ngày 21/6/2026 còn lại bao nhiêu (sau khi đã kiểm tra, đối chiếu tài liệu, chứng cứ).
Ngày 27/8/2026, Tòa án cấp phúc thẩm ra Thông báo về việc yêu cầu cung cấp chứng cứ số 13749/TB-TA yêu cầu bị đơn cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ:
Ông Nguyễn Duy B, bà Phan Thanh V cung cấp tài liệu, giấy tờ chứng minh số tiền đã chuyển cho bà Nguyễn Xuân H từ ngày 19/10/2022 đến ngày 21/6/2025 theo giấy ngày 21/6/2025. Trường hợp ông B, bà V chuyển khoản cho bà H thì cung cấp bảng sao kê tài khoản đối ứng giữa tài khoản của ông B, bà V và người khác bên ông B, bà V (nếu có) với bà H và người khác bên bà H (nếu có).
Từ ngày 19/10/2022 đến ngày 21/6/2025 (theo giấy ngày 21/6/2025), ông Nguyễn Duy B, bà Phan Thanh V, người khác bên ông B, bà V (nếu có) đã chuyển cho bà Nguyễn Xuân H, ông Nguyễn Xuân T, bà Đinh Thị Đ, ông Nguyễn Hoàng H1, ông Nguyễn Tấn H2, người khác bên bà H (nếu có) bao nhiêu tiền, đây là tiền gì, chuyển tiền cho nhau với mục đích gì.
Tại sao ông Nguyễn Duy B, bà Phan Thanh V trả tiền lãi cho bà Nguyễn Xuân H.
Tiền lãi bà V, ông B và người khác bên bà V, ông B (nếu có) chuyển cho bà H từ ngày 22/10/2022 đến ngày 21/6/2025 là bao nhiêu tiền, của khoản nợ nào, thời hạn thanh toán nợ, mức lãi suất của từng khoản nợ (yêu cầu liệt kê cụ thể từng khoản nợ và tiền lãi của từng khoản nợ).
Số tiền chốt đến ngày 21/6/2026 còn lại bao nhiêu (sau khi đã kiểm tra, đối chiếu tài liệu, chứng cứ).
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 11/9/2026 của ông B, bà V thể hiện: Ông B, bà V đã thuê đơn vị kiểm toán là Công ty TNHH K, địa chỉ: số A, đường B, T, phường G, Thành phố Hồ Chí Minh, rà soát, đối chiếu số tiền chuyển qua lại có chênh lệch 31.900.000.000 đồng theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hay không.
Theo Báo cáo số 673/2026/BCKT/AACS ngày 10/9/2026 của Công ty TNHH K về các phát hiện thực tế giao dịch chuyển tiền và trả tiền từ ngày 19/10/2022 đến ngày 21/6/2025, trên cơ sở bản viết tay 24 trang giấy có chữ ký của bà V thì số tiền gốc bà H đã chuyển cho bên bà V 306.615.000.000 đồng (ba trăm lẻ sáu tỷ sáu trăm mười lăm triệu đồng); số tiền bên bà H đã nhận từ bên bà V 312.820.578.000 đồng (ba trăm mười hai tỷ tám trăm hai mươi triệu năm trăm bảy mươi tám nghìn đồng), trong đó tiền gốc 282.283.000.000 đồng, tiền lãi 30.537.578.000 đồng; chênh lệch giữa số tiền bên bà H và bên bà V là 6.205.578.000 đồng.
Tuy nhiên, báo cáo trên chỉ căn cứ vào tờ giấy 24 trang nêu trên, không có bảng sao kê đối chứng tài khoản giữa bà H, bà V chuyển tiền qua lại cho nhau. Đồng thời, bị đơn cung cấp thêm lời trình bày của ông Nguyễn Trung H3, ông Nguyễn Trung H4, bà Võ Thị Ngọc T1 về giao dịch chuyển khoản ngày 08/8/2024 số tiền 2.500.000.000 đồng (khoản tiền bà H yêu cầu bà V giải ngân qua số tài khoản của ông Phạm Tấn D1 là bạn của bà H), ngày 25/7/2024 số tiền 3.000.000.000 đồng (khoản tiền bà H yêu cầu bà V giải ngân qua số tài khoản của ông T, chồng bà H).
Ngày 14/9/2026, ông B, bà V có đơn rút lại các chứng cứ đã cung cấp cho Tòa án vào ngày 11/9/2026, đề nghị Tòa án không xem xét, đánh giá nội dung tài liệu đã cung cấp cho Tòa án. Tại phiên tòa ngày 15/9/2026, bên bị đơn cho rằng số tiền bị đơn chuyển khoản cho nguyên đơn nhiều hơn Báo cáo số 673/2026/BCKT/AACS nêu trên, cần phải có đối chiếu lại giữa hai bên.
Ngày 14/9/2026, nguyên đơn cung cấp văn bản trình bày ý kiến ngày 10/9/2026 và bản diễn giải 24 trang giấy nêu trên thì giao dịch chuyển tiền qua lại giữa bà H, bà V chủ yếu liên lạc xác nhận qua Zalo, có nhiều tin nhắn hình ảnh xác nhận giao dịch qua lại với nhau kể từ tháng 10/2022 đến tháng 6/2025; trong suốt quá trình chuyển tiền qua lại, toàn bộ phần tiền gọi là lãi do bà V tự gửi thêm cho bà H, vì bà V mượn tiền kinh doanh có lợi nhuận tự trả thêm cho bà H, bà H không có yêu cầu hay thỏa thuận gì giữa hai bên, sau này hai bên còn gọi là tiền lãi để phân biệt.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ tờ giấy gồm 24 trang nêu trên xác định có sự việc giữa bà H và bà V đã tiến hành chốt nợ đến ngày 21/6/2025, theo đó bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 31.900.000.000 đồng, buộc bị đơn thanh toán số tiền trên là chưa đủ căn cứ, cần điều tra, làm rõ khoản tiền hai bên chuyển khoản cho nhau từ ngày 19/10/2022 đến ngày 21/6/2025 thì tiền nợ gốc là bao nhiêu, thời hạn thanh toán, mức lãi suất thỏa thuận giữa hai bên, tiền lãi bà V đã trả cho bà H là của khoản vay nào, số tiền chênh lệch như bị đơn trình bày sau khi đã đối chiếu tài khoản đối ứng tại ngân hàng giữa hai bên thì số tiền chênh lệch thực tế là bao nhiêu.
Tòa án đã yêu cầu các đương sự cung cấp chứng cứ nhưng nguyên đơn, bị đơn cung cấp chưa đầy đủ, nên chưa đủ cơ sở xem xét, đánh giá chứng cứ. Mặt khác, tại cấp phúc thẩm nguyên đơn, bị đơn cung cấp thêm chứng cứ mới, chứng cứ phải được xem xét, đánh giá ở hai cấp mới đảm bảo quyền lợi của đương sự. Do đó, cần hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về cho cấp sơ thẩm giải quyết lại, cấp sơ thẩm không có lỗi.
[2.2] Đối với Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2025/QĐ-BPKCTT “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” ngày 31/7/2025 và Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2025/QĐ-BPKCTT “Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ” ngày 05/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 19 – Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn kháng cáo yêu cầu hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên, căn cứ quy định tại Điều 140 Bộ luật Tố tụng dân sự về khiếu nại, kiến nghị về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ hoặc không áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời: “Đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc việc Thẩm phán không quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Thời hạn khiếu nại, kiến nghị là 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc trả lời của Thẩm phán về việc không ra quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời”.
Bị đơn đã nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nêu trên nhưng không có khiếu nại nên đã hết thời hạn giải quyết khiếu nại.
Từ những phân tích trên, kháng cáo của bị đơn có cơ sở chấp nhận một phần.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 1736/2026/DS-PT NGÀY: 15/09/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 1736/2026/DS-PT NGÀY: 15/09/2026
…………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn