Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập đủ tài liệu, chứng cứ khi giải quyết vụ án và giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập đủ tài liệu, chứng cứ khi giải quyết vụ án và giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn kháng cáo của người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ Nguyễn Thị A gồm các ông, bà Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H2, Nguyễn Văn H3, Nguyễn Thị H4, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị N và Nguyễn Văn H5 làm trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc được Tòa án triệu tập hợp lệ. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

[3] Theo nguyên đơn ông Thái Văn Q trình bày: Năm 2013, ông và vợ chồng ông Nguyễn Văn D, bà Trịnh Anh T có thỏa thuận sang nhượng căn nhà và diện tích đất số E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 04487 ngày 14/11/2013. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông Q cho ông D, bà T thuê lại căn nhà trên, nhưng bị đơn chỉ trả tiền thuê 01 tháng. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:

Buộc ông Nguyễn Văn D, bà Trịnh Anh T cùng cụ Nguyễn Thị A có trách nhiệm liên đới phải di dời đồ đạc ra khỏi nhà để giao trả tài sản là nhà và đất.

Yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê nhà ký ngày 11/10/2013 giữa ông Thái Văn Q và ông Nguyễn Văn D, bà Trịnh Anh T.

Yêu cầu buộc cụ Nguyễn Thị A, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị H2, ông Nguyễn Văn H3, bà Nguyễn Thị H4, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Văn H5 có nghĩa vụ liên đới bồi thường thiệt hại (tiền thuê nhà) số tiền 3.000.000 đồng/tháng, thời gian tính từ ngày 11/01/2014 cho đến khi kết thúc vụ việc.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về việc buộc ông D, bà T, người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ A và những người đang sinh sống tại nhà số E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang di dời đồ đạc và trả lại nhà, đất trên cho nguyên đơn; rút yêu cầu đối với 02 yêu cầu khởi kiện còn lại.

[4] Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông D, bà T vắng mặt và không có ý kiến trình bày. Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ A trình bày nguồn gốc nhà, đất tranh chấp là của cụ Nguyễn Văn C và cụ Nguyễn Thị A, nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và có yêu cầu độc lập: hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân thành phố L cấp cho ông D và bà T; hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Ủy ban nhân dân thành phố L cấp cho ông Q; tuyên bố vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông D, bà T với ông Q; công nhận căn nhà và đất số E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang thuộc quyền sở hữu của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ của cụ A và đồng thừa kế của cụ C.

[5] Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[5.1] Theo lời trình bày của những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cụ A thì nguồn gốc nhà, đất tại số E, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang là của vợ chồng cụ C, cụ A (cũng là cha mẹ của bị đơn). Tại đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 05/10/2012, ông Nguyễn Văn D kê khai nguồn gốc đất “của cha mẹ sử dụng năm 1975 cho lại năm 1990 sử dụng đến nay” (BL 20). Tuy nhiên, trong phần xác nhận của Ủy ban nhân dân phường M, thành phố L, tỉnh An Giang xác nhận nguồn gốc đất: “của bà Nguyễn Thị H8 sử dụng từ năm 1975 bán lại cho ông Nguyễn Văn D từ năm 1990 đến nay”. Tại các biên bản làm việc với người làm chứng Nguyễn Thị H8, cán bộ địa chính phường và đại diện Ủy ban nhân dân phường M xác định bà H8 bán đất cho cụ A, cụ C trước năm 1975.

Căn cứ vào lời trình bày của đương sự và các tài liệu, chứng cứ nêu trên, có cơ sở xác định nhà, đất đang tranh chấp có nguồn gốc của cụ C, cụ A (cha mẹ của ông D). Theo nội dung đăng ký kê khai, ông D nêu nguồn gốc đất được cha mẹ tặng cho từ năm 1990, nhưng hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ thể hiện việc tặng cho. Trong khi đó, những người thừa kế khác của cụ C, cụ A cho rằng nhà, đất trên dùng vào việc thờ cúng. Do vậy, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập tài liệu, chứng cứ làm rõ cơ sở để ông D được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào năm 2012, mà nhận định việc cấp giấy chứng nhận đã được thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục để xác định giấy chứng nhận đã cấp cho ông D đúng quy định pháp luật là chưa đủ căn cứ.

[5.2] Cụ C chết năm 2007, không để lại di chúc. Cụ Anh chết năm 2019. Bản án sơ thẩm nhận định, sau khi cụ C chết, cụ A cùng với vợ chồng ông D, bà T tiếp tục sử dụng nhà, đất cho đến khi mất vào năm 2019. Từ đó, xác định cụ A đã tặng cho ông D phần nhà, đất thuộc quyền sở hữu của cụ A và chia thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản của cụ C là không có căn cứ và giải quyết vượt quá phạm vi yêu cầu của đương sự. Vì hồ sơ vụ án không có tài liệu thể hiện cụ A có tặng cho nhà, đất cho ông D và không có yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản của cụ C.

[5.3] Do chưa đủ cơ sở xác định ông D có quyền sở hữu đối với nhà, đất nêu trên nên không thể xem xét hiệu lực của giao dịch chuyển nhượng nhà, đất giữa ông Q với vợ chồng ông D, bà T, bởi: Trong trường hợp không chứng minh được có việc tặng cho nhà, đất cho ông D thì cần phải xem xét việc ông Q có ngay tình khi thực hiện giao dịch chuyển nhượng, vì ngoài ông D, bà T thì những người thừa kế khác của cụ C, cụ A cũng sinh sống tại nhà, đất này.

[6] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ khi giải quyết vụ án. Việc xem xét, giải quyết tại cấp phúc thẩm sẽ gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa; chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của đương sự; hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo quy định pháp luật.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 344/2025/DS-PT NGÀY: 21 – 4 – 2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 344/2025/DS-PT NGÀY: 21 – 4 – 2025

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan