
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngày 24/02/2023, bị đơn ông Nguyễn Văn L có đơn kháng cáo đối với Bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 07/2023/HNGĐ-ST, ngày 10/01/2023 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh T. Việc kháng cáo được thực hiện trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong nội dung bản án sơ thẩm, đơn kháng cáo của ông L là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nội dung kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Ông Nguyễn Văn L cho rằng Tòa án nhân dân huyện Y thụ lý lại vụ án do bà Bùi Thị V khởi kiện, có nội dung giống với vụ án đã đình chỉ giải quyết mà không có tình tiết mới, chứng cứ mới là trái quy định pháp luật, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Tại Bản án số 15/2017/HNGĐ-PT ngày 18/12/2017, Tòa án nhân dân tỉnh T đã quyết định hủy bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 50/2017/HNGĐ-ST ngày 16/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Y, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Y giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Ngày 26/3/2018, Tòa án nhân dân huyện Y thụ lý lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Ngày 29/3/2018, bà Bùi Thị V có đơn xin rút đơn khởi kiện theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 30/3/2018 Tòa án nhân dân huyện Y ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 85/2018/QĐST-HNGĐ. Sau đó bà V không nhất trí quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và có đơn kháng cáo quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Ngày 16/5/2018, Tòa án nhân dân tỉnh T thụ lý phúc thẩm vụ án. Ngày 14/6/2018, Tòa án nhân dân tỉnh T ra quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 09/2018/QĐ-PT, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Bùi Thị V. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 85/2018/QĐST-HNGĐ, ngày 30/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Y.
Căn cứ khoản 1 Điều 218 Bộ luật tố tụng Dân sự quy định về hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự: “1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật”, điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “c) Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện…”. Tại mục 2 của Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 85/2018/QĐST-HNGĐ ngày 30/3/2018 của Tòa án nhân dân huyện Y có nội dung “2. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết lại vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 218 của Bộ luật tố tụng Dân sự…” Như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 218, Điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự, ngày 11/6/2018 bà Bùi Thị V có đơn khởi kiện, ngày 25/7/2018 Tòa án nhân dân huyện Y, thụ lý giải quyết vụ án là thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2.2] Ông Nguyễn Văn L cho rằng ông và bà Bùi Thị V không hề chung sống với nhau như vợ chồng, Tòa án nhân dân huyện Y xác định ông và bà V có quan hệ nam nữ chung sống như vợ chồng là không chính xác:
Căn cứ kết quả xác minh tại UBND các xã H, Kim Quan, huyện Y; UBND xã P, Công an xã P, huyện L, tỉnh Yên Bái; căn cứ biên bản làm việc, biên bản lấy lời khai của các nhân chứng như ông Nguyễn Thanh T5 (nguyên là cán bộ của phòng Kế hoạch, Kỹ thuật Lâm trường Y – nay là Công ty TNHH MTV Lâm nghiệp Y) khai tại (BL 269) “Tôi là cán bộ của Lâm trường Y, bà V chuyển đến công tác tại Lâm trường năm 1986 và ở nhà tập thể có ông L đến ở cùng”; bà Nhữ Thị D khai tại (BL 259) “Năm 1992 tôi được chuyển công tác về làm đội trưởng đội 774 và tôi ở cùng dãy tập thể với ông bà V L, tôi thấy họ có một con chung khoảng 03 tuổi tên là H1”; bà Lưu Thị H4 khai tại (BL 257) “Tôi ở tập thể Đội 774 khoảng cuối năm 1988 ông L bà V đến ở tập thể cùng thời điểm với gia đình tôi”… Như vậy, có căn cứ xác định ông L và bà V chung sống với nhau như vợ chồng từ khoảng cuối năm 1987, đầu năm 1988.
Ngoài ra Tại phiên tòa phúc thẩm ông L khai: Do bà V đặt vấn đề xin một đứa con, ông và bà V có quan hệ nam nữ với nhau một đến hai lần, sau đó ông đi làm ăn ở Yên Bái, ông nhận được tin bà V sinh con, ông có quay về xã M thuê người dựng một ngôi nhà trên đất của Lâm trường cho mẹ con bà V sinh sống, ông tiếp tục đi Yên Bái làm ăn, sau này đến 1999 thì quay về xã H sinh sống, ông có mượn đất của ông T2 để dựng quán bán hàng, sau khi ông L mượn đất dựng quán bán hàng trên thửa đất của ông Ma Xuân T2 dựng xong được khoảng hơn 1 tuần thì mẹ con bà V đến xin ở nhờ, do thương tình nên một lần nữa ông cho Bà V ở nhờ tại một bên trái nhà, tháng 6/2001 ông làm nhà xây, đến tháng 3/2002 thì xây xong, ông dọn về nhà xây ở, và có nhờ người dỡ 2 gian quán trước đó đã dựng trên đất nhà ông T2 về dựng cạnh ngôi nhà xây mới xây xong, ông cho anh H1 ở 1 gian buồng, còn bà V thì xin ở nhờ tại 2 gian quán. Thời gian bà V và anh H1 sinh sống ở đó cho đến năm 2012 thì ông phát hiện bị mất trộm nên đã đuổi bà V và anh H1 đi; Như vậy chính lời khai của ông L xác nhận thời gian bà V, anh H1 cùng sinh sống với ông L từ khi còn ở tại gian quán được dựng trên đất của ông Ma Xuân T2, cho đến khi xây xong ngôi nhà xây hiện tại và chuyển từ gian quán bán hàng về nhà xây hiện tại và tiếp tục chung sống cho đến năm 2012 mới đuổi đi.
Tại các tài liệu do và Bùi Thị V xuất trình (BL 100 -102) thể hiện tại sổ hộ khẩu được lập ngày 15/12/99 ông Nguyễn Văn L là chủ hộ, các thành viên trong hộ gồm bà Bùi Thị Viên, sinh năm 1952 có quan hệ với chủ hộ là Vợ; anh Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1989 quan hệ với chủ hộ là Con, các tài liệu này phù hợp với kết quả xác minh bổ sung của Tòa án nhân dân tỉnh T tại Công an xã H, cụ thể: Tại biên bản xác minh ngày 13/7/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh T, công an xã H cung cấp qua kiểm tra sổ đăng ký thường trú HK11 (không ghi năm), trang số 22 thể hiện hộ ông Nguyễn Văn L gồm ông Nguyễn Văn L là chủ hộ, bà Bùi Thị V có quan hệ với chủ hộ là vợ, bà V tách hộ ngày 25/9/2015; Tại sổ đăng ký hộ khẩu NK3 quyển số 07 trang 15 thể hiện hộ ông Nguyễn Văn L sinh ngày 19/6/1942, bà Bùi Thị V sinh năm 1952, ông Nguyễn Văn Hải sinh ngày 24/8/1989; Tại sổ đăng ký thường trú HK11 (không ghi năm) tờ 64 thể hiện hộ ông Nguyễn Văn L gồm: Ông Nguyễn Văn L chủ hộ, sinh năm 1942; bà Bùi Thị V quan hệ với chủ hộ: Vợ, sinh năm 1952; Ông Nguyễn Văn Hải; quan hệ với chủ hộ: Con.
Mặc dù lời khai ông L xác định có làm thủ tục chuyển khẩu về đăng ký hộ khẩu tại xã H, nhưng không được cấp sổ hộ khẩu, và không có liên quan đến bà Bùi Thị V; Hội đồng xét xử thấy rằng: Căn cứ các tài liệu chứng cứ thu thập được đủ cơ sở xác định ông L có đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thôn N, xã H, Y, T chung một hộ với bà V, anh H1 và là chủ hộ, các thành viên trong hộ gồm bà Bùi Thị V, có quan hệ với chủ hộ là Vợ; anh Nguyễn Thanh H1 có quan hệ với chủ hộ là Con. Không có căn cứ chấp nhận ý kiến này của ông L.
Nội dung này cũng đã được chứng minh tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 101/2015/HNGĐ- ST ngày 28 tháng 7 năm 2015 của Tòa án nhân dân huyện Y và Bản án phúc thẩm số 07/2015/HNGĐ- PT ngày 17/11/2015 của Tòa án nhân dân tỉnh T (bản án đã có hiệu lực pháp luật), tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay ông L xác định sau khi Tòa án tỉnh T xét xử phúc thẩm và giữ nguyên bản án số 101/2015/HNGĐ –ST ngày 28/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện Y ông L không khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm; Do đó đủ căn cứ xác định ông Nguyễn Văn L và bà Bùi Thị V chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn, thời gian chung sống từ cuối năm 1987 đầu năm 1988 cho đến năm 2012.
[2.3] Về tài sản chung do ông Nguyễn Văn L, bà Bùi Thị V cùng tạo lập trong thời gian chung sống:
Căn cứ ý kiến khu dân cư Thôn N và lời khai của ông Hà Văn T1 xác định diện tích đất ông Hà Văn T1 chuyển nhượng theo hợp đồng chuyển nhượng đất ngày 19/01/2001 có nguồn gốc là ông T1 khai phá từ khoảng năm 1990, 1991. Tại hợp đồng ngày 19/01/2001 có xác nhận của UBND xã H chỉ thể hiện người chuyển nhượng là ông Hà Văn T1; người nhận chuyển nhượng là ông Nguyễn Văn L.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày hôm nay ông Hà Văn T1 trình bày việc mua bán chuyển nhượng thửa đất, năm 1998 ông bán cho ông L, có viết giấy viết tay với nhau và có giao nhận tiền cho nhau, sau này có ra UBND xã làm lại giấy, việc mua bán chuyển nhượng chỉ có ông và ông L tham gia, không có bất kỳ liên quan gì đến bà V, bà V có đến xin xác nhận, sau này phát hiện ra nên ông mới làm Bản tờ trình gửi Tòa án. Các lời khai trước đây do Tòa án Y tiến hành ghi lời khai, xác minh ông khai trung thực và không bị ép buộc gì, lời khai tại Tòa án tỉnh T năm 2017 là đúng.
Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa phúc thẩm ông Hà Văn T1 thay đổi lời khai, xác định việc mua bán chuyển nhượng chỉ có ông và ông L, không liên quan giao dịch gì với bà V; Tuy nhiên căn cứ lời khai của ông Hà Văn T1 và bà Lê Thị E (vợ ông T1) tại biên bản xác minh ngày 15/7/2019 được lập sau ngày ông T1 viết, nộp bản tờ trình ngày 05/6/2017 (BL 44) ông T1 trình bày “Trước đây ông có bán một diện tích đất cho ông Nguyễn Văn L và bà Bùi Thị V nhưng vào năm nào thì không rõ…số tiền tôi đã nhận 5 triệu đồng, khi bán có viết giấy, có xác nhận của UBND xã H, khi đó ông L bà V đang ở với nhau, diện tích đất tôi bán cho ông L, bà V khoảng hơn một nghìn mét vuông”; biên bản lấy lời khai của Tòa án tỉnh T ngày 07/8/2017 (BL 226) ông T1 khai “Tôi xác định nguồn gốc đất ông L, bà V đang tranh chấp là do tôi khai phá, sau đó bán lại cho ông L, khi bán ông L là người giao dịch với tôi, trong thời gian này ông L và bà V đang ở với nhau”; bản tự khai (BL 231) ông T1 khai “Đối với phần đất chuyển nhượng cho ông L, bà V tôi xác định đã chuyển quyền sử dụng cho ông L, bà V”; bà Lê Thị E khai (BL 229) “Bà V, ông L đến ở xã H có nhận chuyển nhượng đất của gia đình tôi, việc chuyển nhượng được thực hiện vào năm 2001”.
Như vậy có căn cứ xác định khi ông T1 bán đất cho ông L có cả bà V cùng đi xem đất và cùng trao đổi, thống nhất thỏa thuận mua đất với ông T1. Lời khai của vợ chồng ông T1 bà E trong quá trình giải quyết xét xử các vụ án trước đây phù hợp với lời khai của bà Bùi Thị V, phù hợp quá trình sử dụng đất sau này của ông L và bà V và phù hợp lời khai những người làm chứng, phù hợp các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về thời gian nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Ông L trình bày ông L mua đất của ông T1 từ năm 1998, sau đó năm 2001 mới ra UBND xã đề thực hiện việc lập hợp đồng chuyển nhượng;
HĐXX thấy rằng: Tại hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 25/01/2001 phần xác nhận của UBND xã ghi ngày 19/01/2001 thể hiện các bên lập hợp đồng tại UBND xã, nội dung này được ông T6 cán bộ địa chính xã H từ năm 2000 đến 2004 xác nhận trong thời gian ông làm cán bộ địa chính xã có xác nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa ông L và ông T1;
Mặt khác tại giấy ủy quyền sử dụng đất lập ngày 24/6/2010 do bà Nguyễn Thị L1 nộp thể hiện: “Tôi có một lô đất được ông Hà Văn T1 người cùng xã chuyển nhượng cho năm 2001” Những tài liệu này phù hợp với lời khai của bà Bùi Thị V, phù hợp lời khai của ông Hà Văn T1, Lê Thị E, phù hợp lời khai của ông T6 là cán bộ địa chính xã phù hợp với các chứng cứ khác, đủ cơ sở xác định thời điểm ông L nhận chuyển nhượng đất của ông Hà Văn T1 là năm 2001 không phải năm 1998 như ý kiến trình bày của ông L.
Đối với ngôi nhà trên đất tuy có sự khác nhau về mốc thời gian ông L xác định được xây dựng từ năm 2001 đến năm 2002; bà V xác định xây dựng năm 2003, nhưng đều nằm trong thời điểm ông L bà V chung sống.
Việc ông L xác định diện tích đất và tài sản trên đất trên không phải là tài sản chung của ông L và bà V trong thời gian chung sống là không có cơ sở chấp nhận.
[2.4] Ông L cho rằng ông không viết giấy bán đất cho vợ chồng ông Hoàng Văn T3, bà Trần Thị M, Giấy chuyển nhượng đất đề ngày 3.8.05 có chữ ký của ông L, bà V, ông T3, bà M là do bà V giả mạo chứng cứ:
Xét thấy: ông Hoàng Văn T3 khai (BL 48) “Ngày 3/8/2005 tôi Hoàng Văn T3 và vợ tôi là Trần Thị M có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà Bùi Thị V và ông Nguyễn Văn L chiều mặt đường 6m, chiều sâu 20m. khi viết giấy chuyển nhượng ông L đọc cho bà V viết, số tiền chuyển nhượng 12.000.000 đồng”; biên bản làm việc (BL 432) ông T3 bà M trình bày “Tôi khẳng định khi mua bán đất với ông L, bà V có mặt hai vợ chồng tôi, ông bà V L và cháu Hải, bà V là người trực tiếp viết giấy chuyển nhượng đất, ông L là người đọc cho bà V viết, sau đó các bên cùng ký vào giấy chuyển nhượng đất ghi ngày 3.8.05 có chữ ký của người làm chứng Ma Văn H5”; tại biên bản xác minh ông Ma Văn H5 khai (BL 256) “Việc chuyển nhượng đất giữa hai gia đình tôi biết sự việc, tôi là người làm chứng việc mua bán đất trên. Việc mua bán đất có vợ chồng ông bà L V, vợ chồng ông bà T3 M tại nhà ông L”. Quá trình giải quyết vụ án ông L cho rằng chữ viết và chữ ký của ông trong giấy chuyển nhượng ngày 3.8.05 là giả mạo và đề nghị giám định. Tại Kết luận giám định ngày 23/01/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T (tài liệu do Tòa án thu thập từ vụ án trước) kết luận chữ ký, chữ viết dưới mục “Người nhượng đất” trong “Giấy chuyển nhượng đất” (ký hiệu A) với chữ viết, chữ ký mang tên “Nguyễn Văn L” trong các tài liệu M1, M2, M3, M4 là do cùng một người ký và viết. Như vậy có căn cứ xác định năm 2005, ông L, bà V đã cùng chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông T3, bà M.
Quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp phúc thẩm ông L đề nghị giám định, làm rõ các văn bản giả nhưng ông L không xuất trình được bản gốc đề làm căn cứ giám định, hơn nữa tài liệu thể hiện việc chuyển nhượng đất cho ông T3, bà M không phải là tài liệu trực tiếp chứng minh quá trình hình thành tài sản chung của ông L, bà V mà đây là tài liệu có giá trị bổ trợ chứng minh ông L, bà V cùng ý trí, cùng định đoạt tài sản chung; do vậy không chấp nhận yêu cầu giám định lại của ông Nguyễn Văn L.
[2.5] Ông L cho rằng ông có đề nghị trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết tại cơ quan giám định của Bộ quốc phòng nhưng cấp sơ thẩm không thực hiện:
Hội đồng xét xử thấy: Tại biên bản làm việc ngày 12/10/2022 (BL 429) ông L có đề nghị Tòa án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết Nguyễn Văn L, Bùi Thị V, Hoàng Văn T3, Trần Thị M trong “Giấy chuyển nhượng đất đề ngày 3.8.05” và giám định chữ ký, chữ viết Nguyễn Văn L, Bùi Thị V, Hoàng Văn T3, Trần Thị M, Ma Văn H5 trong “Giấy chuyển nhượng đất đề ngày 3.8.05”. Tại buổi làm việc ông L cam kết sẽ nộp tiền tạm ứng chi phí giám định theo quy định. Ngày 01/11/2022 Tòa án nhân dân huyện Y đã ra Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng thông báo cho ông L biết, đồng thời ngày 03/11/2022 Tòa án huyện Y đã niêm yết công khai Thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng tại nơi cư trú của ông L, trụ sở UBND xã H và trụ sở Tòa án. Trong thông báo có ghi rõ nội dung “Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo này ông phải đến trụ sở Tòa án nhân dân huyện Y để nộp số tiền tạm ứng chi phí giám định…”. Tuy nhiên ông L đã không nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng nên Tòa án đã không tiến hành được việc trưng cầu giám định, chữ ký, chữ viết theo yêu cầu của ông L.
[2.6] Ông L cho rằng sau khi xét xử sơ thẩm xong, Tòa án nhân dân huyện Y gửi bản án cho ông quá thời hạn quy định:
Ngày 10/01/2023 Tòa án nhân dân huyện Y đã xét xử sơ thẩm vụ án, sau khi xét xử xong, ngày 13/01/2023 Tòa án cùng chính quyền địa phương đã trực tiếp đến nhà ông Nguyễn Văn L để ống đạt bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 07/2023/HNGĐ-ST cho ông L nhưng ông L không có mặt ở nhà, cùng ngày Tòa án huyện Y đã niêm yết công khai Bản án tại nơi cư trú của ông L, tại UBND xã H và Trụ sở Tòa án huyện Y. Như vậy Tòa án nhân dân huyện Y đã tống đạt và niêm yết bản án theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của ông L.
[2.7] Về quan điểm của luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông L, Bà L1, Bà L2, ông T1 đề nghị Hủy bản án do vi phạm thủ tục tố tụng: HĐXX thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý vụ án đúng quy định, tiến hành thu thập chứng cứ, hòa giải, đưa đầy đủ những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng, đối với ông Hoàng Văn T3 và bà Trần Thị M là những người đã nhận chuyển nhượng bằng giấy viết tay đất của ông L, bà V, Quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành ghi lời khai những người này, ông T3, bà M đều trình bày về nội dung nhận chuyển nhượng đất và không có ý kiến vướng mắc gì, bản thân bà V, ông L trong quá trình giải quyết vụ án cũng không có ý kiến gì, không có yêu cầu đưa những người này vào tham gia tố tụng. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông T3, bà M vào tham gia tố tụng là đúng quy định. Đối với ông Ma Văn H5, Tòa án sơ thẩm đã ghi lời khai ông H2, lời khai ông H2 thống nhất, không có sự mâu thuẫn, do vậy không chấp nhận quan điểm của luật sư bảo vệ quyền lợi cho ông L về nội dung này.
[2.8] Khoản 1 Điều 16 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định:
“1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống được coi như lao động có thu nhập” Quá trình chung sống ông L, bà V không có thỏa thuận nào về tài sản chung, tài sản riêng, tuy nhiên Ông L, bà V chung sống với nhau từ năm 1988, năm 2001 nhận chuyển nhượng đất của ông Hà Văn T1, sau đó ông bà cùng sinh sống, làm ăn, xây dựng tạo lập khối tài sản chung là nhà ở và các công trình phụ trợ trên diện tích đất trên. Đến năm 2005, ông L, bà V cùng thực hiện giao dịch chuyển nhượng đất cho ông T3, bà M; Các chứng cứ thu thập được có đủ cơ sở xác định quá trình nhận chuyển nhượng đất của ông Hà Văn T1, xây dựng nhà xây bà V, ông L đều có đóng góp chung, mặc dù không có cơ sở xác định phần của mỗi người đóng góp là bao nhiêu, tuy nhiên căn cứ quy định tại khoản 2 điều 16 luật hôn nhân gia đình xác định bà V có đóng góp trong khối tài sản chung của Ông L, bà V đã cùng tạo dựng trong thời gian chung sống. Như vậy, có căn cứ xác định diện tích đất đang tranh chấp và các tài sản trên đất (như biên bản thẩm định của tòa án cấp sơ thẩm) tại thửa đất số 28, tờ bản đồ số 11 thuộc sở hữu chung của ông L, bà V.
Bản án sơ thẩm nhận định tại mục 4.6; 4.2 về nguyên tắc xác định tài sản chung theo Điều 33, 43 luật hôn nhân gia đình và nhận định “dù tài sản do ông L, bà V mua trong thời gian chung sống sẽ được xác định là tài sản chung” và áp dụng Điều 33, 43 vào phần quyết định của bản án chưa chính xác, bởi lẽ Điều 33, 43 luật hôn nhân gia đình quy định về chế độ tài sản chung của vợ chồng trong khi ông L bà V chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn, và không làm phát sinh quyền nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 14 Luật hôn nhân gia đình.
Tuy nhiên như phân tích của HĐXX tại mục [2.3] đủ căn cứ chứng minh trong thời gian chung sống ông L, bà V cùng nhận chuyển nhượng diện tích đất đang có tranh chấp, cùng nhau xây ngôi nhà và các công trình phụ trợ hiện nay đang có tranh chấp, nguồn tiền dùng để thanh toán tiền nhận chuyển nhượng đất, và để xây dựng nhà cùng có công sức đóng góp của bà V, ông L. Do đó không cần thiết hủy bản án sơ thẩm mà tiến hành rút kinh nghiệm trong quá trình xét xử với cấp sơ thẩm là phù hợp. Bản án sơ thẩm đã phân chia tài sản chung, trong đó ông L, bà V mỗi người được sử dụng 318,2m2 đất tại thửa đất số 28, tờ bản đồ số 11 có giá trị là 14.637.000đ phân chia cho ông L được sử dụng các tài sản trị giá 31.554.000đ; phân chia cho bà V được sử dụng các tài sản trị giá 19.872.000đ là phù hợp với quy định tại Điều 16 Luật hôn nhân gia đình.
Từ những phân tích trên, thấy yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn L là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh T tại phiên tòa phúc thẩm là phù hợp quy định của pháp luật.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm, không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn L nên ông L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên ông L là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 10/2023/HNGĐ-PT NGÀY 27/07/2023 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TUYÊN QUANG]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 10/2023/HNGĐ-PT NGÀY: 27 – 07 – 2023
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn