Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ, chưa đo vẽ các phần đất xung quanh đất tranh chấp để xác định đúng phần đất tranh chấp

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy bản án sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ, chưa đo vẽ các phần đất xung quanh đất tranh chấp để xác định đúng phần đất tranh chấp

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Hữu T1, bà Phạm Thị C làm trong hạn luật định. Ông T1 đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, bà C là người cao tuổi được miễn nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đồng nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc gia đình bị đơn phải trả lại gia đình phần đất tranh chấp diện tích 6.686,5 m² (đo đạc thực tế bằng 4.622 m²); cho các đương sự được nhận tiền bồi thường làm lộ quanh đảo; buộc gia đình bị đơn tháo dỡ toàn bộ nhà cửa, vật kiến trúc, tự thu hoạch, đốn hạ toàn bộ cây cối đã trồng trên đất để trả lại phần đất cho phía nguyên đơn. Bị đơn có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án công nhận phần đất tranh chấp diện tích 6.686,5 m² (đo đạc thực tế bằng 4.622 m²) là thuộc quyền sử dụng của gia đình bị đơn và cho gia đình bị đơn nhận tiền bồi thường làm lộ quanh đảo.
Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang và thụ lý, giải quyết là có căn cứ, đúng quy định tại khoản 9 Điều 26, Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
Phía nguyên đơn trình bày cho rằng nguồn gốc phần đất tranh chấp diện tích 6.686,5 m² (đo đạc thực tế bằng 4.622 m²), thửa số 154, tờ bản đồ số 4 trước đây là của ông Nguyễn Ngọc K (đã mất) và bà Hồ Thị Ngọc C1 (đã mất) là ông bà của nguyên đơn khai phá từ trước năm 1936. Sau đó gia đình ông T1 đã cho gia đình bà Phạm Thị C ở nhờ trên đất, tuy nhiên ông T1 không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh có việc cho ở nhờ.
Ngược lại, phía bị đơn cho rằng phần đất tranh chấp trước đây là đất bỏ hoang, khoảng năm 1965 gia đình bị đơn từ đất liền ra Bãi Ngự khai hoang, sinh sống cất nhà và trồng cây lâu năm cho đến nay. Tuy nhiên, bị đơn cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh quá trình khai hoang, cũng như không có kê khai, đăng ký với chính quyền địa phương.
Theo hồ sơ vụ án thể hiện, tại Bản án số 18/DSST ngày 27/09/1995 và Quyết định công nhận việc hòa giải thành số 18/HGT ngày 14/9/1995 có nội dung công nhận cho bà Nguyễn Ngọc H3 (mẹ của các nguyên đơn) được quản lý sử dụng 25 công đất vườn dừa và 10 công đất hoang tọa lạc tại ấp C, A, K, Kiên Giang. Đây là các bản án, quyết định đang có hiệu lực pháp luật, nên bà Nguyễn Ngọc H3 là người có quyền sử dụng đối với 35 công đất nêu trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện phía bị đơn là ông Lâm Tấn T2 trình bày phần đất tranh chấp mà gia đình ông đang sử dụng nằm cách xa phần đất của gia đình nguyên đơn, còn nguyên đơn ông Nguyễn Hữu T1 thì cho rằng gia đình ông sử dụng một diện tích đất liền thửa từ trước tới nay và phần đất tranh chấp là nằm trong tổng số 35 công đất mà bà H3 được công nhận.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ, chưa đo vẽ các phần đất xung quanh đất tranh chấp để xác định có đúng phần đất tranh chấp nằm trong tổng số 35 công đất mà bà H3 được công nhận hay không, cũng như chưa thu thập chứng cứ để xác định 35 công đất của bà H3 trước đây tọa lạc tại ấp C, A, Kiên H6, Kiên Giang, hiện nay phần nào tọa lạc ấp B, A, Kiên H6, Kiên Giang, có bao gồm phần đất tranh chấp hay không.
Như vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn là chưa có đủ căn cứ vững chắc. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xét thấy cần chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Hữu T1, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị C, hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 353/2025/DS-PT NGÀY: 23-4-2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 353/2025/DS-PT NGÀY: 23-4-2025

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan