Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Bản án tranh chấp thừa kế tài sản, huỷ Văn bản thoả thuận cử người đại diện đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, huỷ quyết định cá biệt

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Bản án tranh chấp thừa kế tài sản, huỷ Văn bản thoả thuận cử người đại diện đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, huỷ quyết định cá biệt

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Ngày 14/10/2024, ông Nguyễn Hoàng Thanh Q, bà Nguyễn Thị Phương M, bà Nguyễn Hoàng Thanh T9, ông Nguyễn Hoàng Thanh T3, bà Nguyễn Hoàng Thanh T2 kháng cáo Bản án dân sự sơ thẩm số 96/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng. Như vậy, kháng cáo của các ông bà nêu trên là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng Thanh Q, bà Nguyễn Thị Phương M, bà Nguyễn Hoàng Thanh T9, ông Nguyễn Hoàng Thanh T3, bà Nguyễn Hoàng Thanh T2:

[2.1] Về thời hiệu khởi kiện: Khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản … kể từ thời điểm mở thừa kế…”. Cụ ông Nguyễn H10 chết năm 1968, cụ bà Nguyễn Thị S4 chết năm 1954, cụ bà Trần Thị B chết năm 1972, ba cụ không để lại di chúc. Ngày 30/10/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Thanh Q (cháu nội cụ H10) yêu cầu chia di sản thừa kế nhà và đất của ông nội là cụ Nguyễn H10 sinh năm 1907 (chết năm 1968) và cụ Trần Thị B sinh năm 1923 (chết năm 1972). Theo quy định tại mục I Công văn số: 01/GĐ-TANDTC ngày 05-01-2018 về Giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ hướng dẫn thì khi xác định thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế mà thời điểm mở thừa kế trước ngày 01-7-1991 và di sản là nhà ở thì thời gian từ ngày 01-7-1996 đến ngày 01-01-1999 không tính vào thời hiệu khởi kiện đối với trường hợp thừa kế không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia. Xét thấy cả ba cụ đều chết trước năm 1990, nên thời hiệu khởi kiện đối với di sản của ba cụ được tính từ ngày 10/9/1990. Ngày 30/10/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Thanh Q (cháu nội cụ H10) yêu cầu chia di sản thừa kế nhà và đất của ông nội là cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị B. Ngày 02/4/2024, ông Nguyễn Văn T6 có yêu cầu độc lập đề nghị xác định nhà đất tại K N là tài sản chung của cụ Nguyễn H10, cụ Trần Thị S, cụ Trần Thị B, yêu cầu chia thừa kế của cụ S … Như vậy, thời hiệu đã quá 32 năm 6 tháng. Tuy nhiên, trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn sơ thẩm, không có đương sự nào yêu cầu áp dụng về thời hiệu. Toà án cấp sơ thẩm không xem xét về thời hiệu khởi kiện mà tiếp tục giải quyết vụ án là có căn cứ.

 [2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Thanh Q và yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T6:

[2.2.1] Nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng Thanh Q yêu cầu chia di sản thừa kế là tài sản chung của cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị B là ngôi nhà có diện tích xây dựng 57,1m2 tọa lạc trên diện tích đất 63,6m2 thuộc thửa đất số 331, tờ bản đồ số 9, địa chỉ K đường N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DC 927068 do UBND quận H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 02/3/2023 đứng tên bà Nguyễn Thị T (là người thừa kế theo pháp luật của cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị B – theo Văn bản thỏa thuận cử người đại diện đứng tên trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất được UBND phường H chứng thực số 440, quyển số 01/2022-SCT/CK, 16 ĐC ngày 14/11/2022). Theo kết quả định giá do Công ty CP G1 thì nhà, đất có giá trị là 2.306.437.000 đồng (bao gồm cả phần xây dựng của bà M, ông T10, ông T6).

 [2.2.2] Căn cứ công văn số: 2997/UBND-PTNMT ngày 19/9/2024 của UBND quận H và các tài liệu do UBND quận H cung cấp có nội dung: “về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất: Cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị B nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn C2 và bà Nguyễn Thị L6 tại Văn tự đoạn mãi đất lập ngày 15/12/1959 với diện tích 10m2. Tại sổ mục kê do UBND phường H lưu trữ thể hiện diện tích đất 63,0m2. Diện tích đất thực tế hiện nay 63,6m2 (do chủ hộ tự khai phá thêm và sử dụng trước năm 1975) (theo ý kiến xác nhận của UBND phường H II ngày 20/12/2022 tại đơn đăng ký cấp Giấy chứng nhận). Năm 1959 sử dụng và sửa chữa lại vào năm 1977 (theo ý kiến xác nhận của UBND phường H II ngày 20/12/2022 tại đơn đăng ký cấp Giấy chứng nhận). Cụ H10, cụ B tạo lập, tự khai phá thêm và sử dụng trước năm 1975; không có tài liệu chứng minh nguồn gốc đất do cụ S và cụ H10 tạo lập trước năm 1954 (trước thời điểm cụ S chết). Về nguồn gốc tạo lập tài sản (ngôi nhà), UBND quận H cũng xác định được tạo lập năm 1959 (tức là sau thời điểm cụ H10 kết hôn với cụ B), các giấy thúc nộp thuế hữu phí do cụ H10 nộp có ghi địa chỉ của cụ H10 là: 15A K Nguyễn Trãi cũng từ năm 1966,1968, 1969 sau thời điểm cụ H10 đã kết hôn với cụ B. Do đó, xác định nhà đất có nguồn gốc là tài sản chung của cụ H10 và cụ B tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của hai cụ. Do hai cụ đã chết nên đây là di sản do cụ H10 và cụ B để lại.

[2.2.3] Việc bà R, bà D, ông T6 và các hàng thừa kế khác của cụ S chỉ căn cứ vào lời xác nhận của các ông bà là hàng xóm sinh sống tại tổ B phường H, Bản án sơ thẩm do Tòa sơ thẩm Quảng Nam – Đà Nẵng ngày 10/11/ 1960 trong đó có nội dung xác định: ông Nguyễn Văn L4 (con cụ H10 và cụ S) kết hôn bà Trương Thị N6 vào ngày 10/01/1960 tại khu phố H, căn cước cụ B cấp ngày 20/8/1955 tại Thừa Thiên Huế nên cụ không phải là người ở H. Từ đó, xác định thời điểm này cụ H10, cụ S đã có nhà ở tại H trước năm 1954 và nhà, đất có nguồn gốc được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân giữa cụ H10, cụ S là không có căn cứ. Hơn nữa, các đồng thừa kế khác của cụ H10 và cụ B không chấp nhận lời khai nại trên, đồng thời tại văn tự đoạn mãi đất ngày 15/12/1959 diện tích đất 10m2, đất hình tam giác chính do cụ H10 và cụ B đứng tên mua. Ngoài ra bà R, ông T6, bà D không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Bên cạnh đó tại văn bản từ chối nhận di sản thừa kế lập ngày 21/3/2023 chính bà R cũng xác định “di sản của cụ Nguyễn H10 là ½ quyền sử dụng đất và nhà tại K15/22 N”, theo đó nhận số tiền 30.000.000 đồng của bà M (vợ ông Ú) để từ chối nhận di sản của cụ H10 để tặng cho ông Ú, bà M. Đồng thời, thống nhất để bà Nguyễn Thị T (con 17 chung của cụ H10 và cụ B) đại diện đứng tên nhà đất là di sản thừa kế của cụ H10 và cụ B để lại, nên không có căn cứ xác định nhà và đất trên là tài sản chung của cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị S (chiếm 84,28%), tài sản chung của cụ H10 và cụ B (chiếm15,7%) theo yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn T6 được.

[2.2.4] Yêu cầu hủy Văn bản thỏa thuận cử người đại diện đứng tên trong GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và hủy GCNQSDĐ: Do nhà đất cụ H10 và cụ B để lại chưa có GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà nên tại văn bản thỏa thuận cử người đại diện đứng tên trên GCNQSDĐ lập ngày 14/11/2022, các ông bà: Nguyễn Thị T, Nguyễn Ú (chết, đại diện ông Nguyễn Hoàng Thanh T3), bà Nguyễn Thị T12 (chết, đại diện ông Trần Văn C), bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị B1, bà Nguyễn Thị R, ông Nguyễn Văn L4 (chết, đại diện ông Nguyễn Văn L1), bà Nguyễn Thị C1 (chết, đại diện bà Trần Thị T5) đã cùng thống nhất cử bà Nguyễn Thị T là người đại diện đứng tên trên GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Căn cứ vào thỏa thuận trên, UBND quận H đã làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận nhà đất tại K do bà Nguyễn Thị T đại diện các đồng thừa kế là phù hợp với quy định của pháp luật về thừa kế. Mặt khác, tại Giấy cam kết từ chối nhận di sản thừa kế lập ngày 20/5/2020, các ông bà Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị R, Nguyễn Thị T, Trần Thị T5, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Thị B1 đã có ý kiến nhượng lại phần thừa kế được hưởng từ cha mẹ cho vợ chồng ông Nguyễn Ú và bà Nguyễn Thị Phương M (bố mẹ nguyên đơn) và đã xác nhận nhận tiền của vợ chồng bà M, ông Ú mỗi người 30.000.000 đồng. Đồng thời, những người trên tiếp tục lập văn bản từ chối nhận di sản có chứng thực tại các Văn Phòng công chứng (cụ thể: bà Nguyễn Thị B1 lập ngày 12/4/2023, chứng thực tại Văn phòng C7, tỉnh Đồng Nai; ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị R, bà Nguyễn Thị Thúy L7 cùng ngày 21/3/2023, chứng thực tại Văn phòng C5- Đà Nẵng). Bà Nguyễn Thị R cho rằng bà biết đọc biết viết, nhưng khi ký giấy cam kết từ chối và tặng cho di sản và văn bản từ chối nhận di sản thừa kế bà không đọc nội dung do bị gia đình ông Ú dùng thủ đoạn nên bà hiểu nhầm. Còn ông Nguyễn Văn L1 (con ông L4) cho rằng khi ký văn bản ông say xỉn nên không biết nội dung cam kết là gì, số tiền nhận của gia đình ông Ú chỉ với mục đích cho ông Ú được ở tại nhà đất tranh chấp ông đã chi tiêu để nuôi mẹ, không đưa cho các đồng thừa kế của ông L4. Xét thấy, tại thời điểm xác lập văn bản thỏa thuận, các đồng thừa kế của cụ H10 và cụ S đều biết chữ, không bị ép buộc. Do đó, không có căn cứ để hủy văn bản thỏa thuận này cũng như văn bản từ chối nhận di sản cụ H10. Do không có căn cứ xác định nhà và đất là một phần di sản của cụ S nên không có căn cứ hủy GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số 18 DC 927068 do UBND quận H, thành phố Đà Nẵng cấp ngày 02/3/2023 do bà Nguyễn Thị T đại diện đứng tên, mà chia thừa kế của cụ H10 và cụ B theo pháp luật để đảm bảo quyền lợi cho các đồng thừa kế của hai cụ. Đương sự nào được giao di sản là hiện vật được chỉnh lý biến động sang tên theo quy định của pháp luật.

[2.2.5] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Nhân Khắc T10 và ông Trần Văn C cho rằng đã bỏ ra số tiền, vàng để sửa chữa ngôi nhà vào năm 1986, tuy nhiên không cung cấp được chứng cứ. Qua xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/8/2024 thì ông T10, ông C có xây một số hạng mục phía sau ngôi nhà để ở. Bà Nguyễn Thị Phương M (vợ ông Ú) cho rằng công trình nhà mái tôn (bếp) bà xây dựng. Do đó, cần căn cứ vào kết quả định giá đối với phần xây dựng của ông T10, ông C và bà M để buộc người nhận di sản là hiện vật thối trả giá trị xây dựng cho ông T10, ông C là phù hợp. Quá trình giải quyết ông T10 có ý kiến ủy quyền cho ông C quản lý phần xây dựng thêm nhưng không có ý kiến định đoạt cho ông C phần xây dựng, nên căn cứ vào giá trị xây dựng để thối trả cho ông T10 là phù hợp. Sau khi cụ H10, cụ B chết thì vợ chồng ông Ú và bà M ở tại nhà đất tranh chấp từ năm 1983 được các đồng thừa kế của cụ H10 và cụ S thừa nhận, quá trình ở có sửa chữa, nâng cấp ngôi nhà thành ngôi nhà có gác lửng, trả tiền chi phí làm Giấy chứng nhận. Do đó cần trích chi phí thanh toán tiền bảo quản di sản 10% trên tổng giá trị di sản trước khi chia thừa kế là phù hợp.

[2.2.6] Theo kết quả định giá, tổng giá trị tài sản là 2.306.437.000 đồng; trong đó, giá trị phần xây dựng của ông T10 là 7.657.650 đồng; giá trị phần xây dựng của ông C là 33.334.568 đồng; giá trị phần xây dựng của bà M 15.012.000 đồng. Sau khi trừ phần xây dựng của ông T10, ông C và bà M, giá trị di sản còn lại là 2.250.432.782 đồng. Trích chi phí thanh toán tiền bảo quản di sản cho ông Ú, bà M 10% trên tổng giá trị di sản là 2.250.432.782 đồng x10% = 225.043.278 đồng. Như vậy, sau trừ đi giá trị xây dựng và chi phí thanh toán tiền bảo quản di sản thì di sản của cụ Nguyễn H10, cụ Trần Thị B còn lại là 2.025.389.504 đồng. [2.3] Xác định hàng thừa kế: quá trình giải quyết vụ án, các đương sự hàng thừa kế bên cụ S, cụ H10 và cụ B đều thống nhất được quan hệ hôn nhân giữa cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị S; giữa cụ Nguyễn H10 và cụ Trần Thị B, các con chung, con, con riêng, con nuôi của các cụ, hàng thừa kế thế vị, chuyển tiếp của các đồng thừa kế. Do đó, có căn cứ xác định hàng thừa kế của 03 cụ như sau:

[A] Cụ Nguyễn H10 (chết năm 1968) và cụ Trần Thị S (chết năm 1954) có 05 người con chung, gồm: bà Nguyễn Thị C1 (Dậu), bà Nguyễn Thị B1, bà Nguyễn Thị R, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn L4. 19

[A.1] Bà Nguyễn Thị C1 (Dậu) chết năm 2012 có chồng là ông Trần Văn M2 (chết năm 1981) và có 08 con chung và 01 người con nuôi, gồm: 08 người con chung: bà Trần Thị T5, bà Trần Thị M3, ông Trần Văn P1, ông Trần Văn H1, ông Trần Minh N, ông Trần Văn Q2 (chết 2018); bà Trần Thị N4 (Trần Thị L5, chết 2006); ông Trần Văn T13 (chết 2011); 01 người con nuôi là bà Trần Thị H. Ông Trần Văn Q2 (chết 2018) có vợ bà Châu Thị T7 và có 02 con chung: chị Trần Thị Thảo V, chị Trần Thị Thảo M1. Bà Trần Thị N4 (Trần Thị L5 (chết 2006), chết trước bà Nguyễn Thị C1 nên hàng thừa kế thế vị con của bà N4 (L5) là chị Huỳnh Thị Hiền P2, anh Huỳnh Tấn H3. Ông Trần Văn T13 (chết 2011), chết trước bà C1, có vợ Bùi Thị Thanh T8 và có 02 người con chung là anh Trần Nhật N3, chị Trần Thị Thùy L2. Bà Nguyễn Thị C1 (D1) có chồng là ông Trần Văn M2 và có 01 người con nuôi là bà Trần Thị H.

[A.2] Ông Nguyễn Văn L4 (chết 1979) có vợ bà Trương Thị N5 (chết 2022) và có 07 người con chung: ông Nguyễn Văn S1 (chết 2011), bà Nguyễn Thị Kiều N1, bà Nguyễn Thị Kiều H2, bà Nguyễn Thị Kiều D, ông Nguyễn Văn T6, ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị Kiều N2. Ông Nguyễn Văn S1 (chết 2011) có vợ Nguyễn Thị Thanh L3 và có 03 người con chung: Anh Nguyễn Văn H4, anh Nguyễn Văn Minh V1, chị Nguyễn Thị Thùy H5.

[A.3] Bà Nguyễn Thị B1 (chết 2024) có chồng chết trước bà B1 và có 03 người con: bà Nguyễn Thị Ngọc H6, Nguyễn Ngọc P3, bà Nguyễn Thị Ngọc H7.

 [B] Cụ S chết năm 1954, cụ Nguyễn H10 kết hôn với cụ Trần Thị B (chết 1972) và có 02 người con chung, gồm: ông Nguyễn Ú (chết năm 2020) và bà Nguyễn Thị T.

[B.1] Ông Nguyễn Ú (chết năm 2020) nên thừa kế chuyển tiếp vợ là bà Nguyễn Thị Phương M và 04 con chung là bà Nguyễn Hoàng Thanh T2, ông Nguyễn Hoàng Thanh Q, ông Nguyễn Hoàng Thanh T3 và bà Nguyễn Hoàng Thanh T9 được hưởng thừa kế của ông Ú.

[B.2] Ngoài ra, cụ Trần Thị B có 02 người con riêng là bà Nguyễn Thị T12 (chết năm 2014) và ông Lê Phước P4 (chết năm 2017). Bà Nguyễn Thị T12 có chồng là ông Trần Nhân Khắc T10 và có 03 con chung là ông Trần Văn C, bà Trần Thị Hồng H, ông Trần Văn T4. Ông T10 xác nhận năm 1988 đã có vợ khác trước khi bà T12 chết. Do đó kỷ phần thừa kế của bà T12 thì ông T10 không được hưởng. Bà Nguyễn Thị T12 có 01 con riêng là bà Nguyễn Thị Lệ H8. Ông P4 chết, có vợ là bà Phan Thị Thu Đ1 (chết trước ông P4), vợ chồng không có con chung.

[2.4] Ông Nguyễn Hoàng Thanh Q và bà Nguyễn Thị Phương M cho rằng không có cơ sở xác định bà T12 là con riêng của cụ B, mà chỉ là người đến ở 20 cùng nhà nên cần xem xét bà T12 có được hưởng thừa kế của cụ B hay không. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị T là con đẻ của cụ B đã xác định bà T12 là con riêng của cụ B, sống cùng bà T12 từ nhỏ. Trong khi đó ông Trần Văn C là con ruột của bà T12 được các đồng thừa kế của cụ H10, cụ B cho sinh sống phần phía sau ngôi nhà là tài sản chung của cụ H10 và cụ B. Đồng thời, tại Văn bản thỏa thuận cử người đại diện đứng tên trên GCNQSDĐ, các đồng thừa kế, trong đó có ông Nguyễn Hoàng Thanh T3 (là con ông Ú) cũng xác nhận bà T12 là con nuôi cụ B, các đồng thừa kế khác không ai phản đối nội dung bà T12 là con riêng của cụ B. Như vậy, cho dù bà T12 là con riêng hay con nuôi của cụ B thì bà T12 vẫn là hàng thừa kế thứ nhất và được hưởng di sản thừa kế của cụ B. Ngoài ra, ông Q còn trình bày, trước khi chết ông Lê Phước P4 có lập di chúc để lại tài sản cho ông Ú. Xem xét di chúc thấy rằng: di chúc ngày 28/8/2016 với nội dung để lại ngôi nhà cho ông Ú thờ cúng ông P4 sau khi chết. Như vậy, ngôi nhà ông P4 đề cập trong di chúc chính là ngôi nhà tại địa chỉ K N đã được xác định là di sản thừa kế của cụ H10 và cụ B, phòng ở của ông P4 là gác xếp, chỉ là 01 bộ phận nhỏ của ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của cụ H10 và cụ B. Vì vậy, ông P4 không có quyền để lại tài sản của cụ H10 và cụ B cho người khác. Di chúc cũng không thể hiện ông P4 để lại phần di sản được hưởng từ cụ B cho ông Ú, nên không có cơ sở xem xét quyền lợi của ông Ú đối với di chúc này. Ông P4 chết năm 2017, có vợ là bà Phan Thị Thu Đ1 chết trước ông P4, vợ chồng không có con chung, con nuôi, con riêng. Mặc dù ông P4 chết sau cụ B nhưng hàng thừa kế thứ nhất không còn. Do đó, xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ B là: ông Nguyễn Ú, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị T12.

[2.5] Như vậy, hàng thừa kế thứ nhất của cụ Nguyễn H10 gồm 08 người: Cụ Nguyễn Thị B2; bà Nguyễn Thị C1 (D), bà Nguyễn Thị B1, bà Nguyễn Thị R, bà Nguyễn Thị T1, ông Nguyễn Văn L4 (các con chung với cụ S); ông Nguyễn Ú, bà Nguyễn Thị T (các con chung với cụ B2). Do bà C1, bà B1 và ông L4, ông Ú chết nên thừa kế chuyển tiếp, thừa kế thế vị của các ông, bà này gồm:

[2.5.1] Thừa kế chuyển tiếp của bà C1 được hưởng chung 01 kỷ phần từ di sản của cụ H10 mà bà C1 được hưởng gồm 09 người: bà Trần Thị T5, bà Trần Thị M3, ông Trần Văn P1, ông Trần Văn H1, ông Trần Minh N, Trần Văn Q1 (vợ là Châu Thị T7 và 02 con chung: chị Trần Thị Thảo V, chị Trần Thị Thảo M1 được nhận 01 kỷ phần mà ông Q1 hưởng từ bà C1), bà Trần Thị N4 (chị Huỳnh Thị Hiền P2; anh Huỳnh Tấn H3 được nhận 01 kỷ phần mà bà N4 hưởng từ bà C1), ông Trần Văn T13 (anh Trần Nhật N3, chị Trần Thị Thùy L2 được nhận 01 kỷ phần mà ông T13 hưởng từ bà C1); bà Trần Thị H (con nuôi).

[2.5.2] Thừa kế chuyển tiếp của ông Nguyễn Văn L4 (chết năm 1979), gồm: ông Nguyễn Văn S1 (vợ Nguyễn Thị Thanh L3 và 03 con chung: anh Nguyễn Văn H4; anh Nguyễn Văn Minh V1, chị Nguyễn Thị Thùy H5 được nhận 01 kỷ phần mà ông S1 hưởng từ ông L4); bà Nguyễn Thị Kiều N1; bà Nguyễn Thị Kiều H2; bà Nguyễn Thị Kiều D; ông Nguyễn Văn T6; ông Nguyễn Văn L1; bà Nguyễn Thị Kiều N2 được cùng hưởng 01 suất di sản của cụ H10 từ 01 kỷ phần ông L4 được hưởng từ cụ H10.

[2.5.3] Thừa kế chuyển tiếp của bà Nguyễn Thị B1 gồm: bà Nguyễn Thị Ngọc H6; Nguyễn Ngọc P3; bà Nguyễn Thị Ngọc H7 được hưởng 01 chung 01 kỷ phần thừa kế mà bà B1 được được hưởng từ cụ H10.

[2.5.4] Thừa kế chuyển tiếp của ông Nguyễn Út G: vợ là bà Nguyễn Thị Phương M và 04 con chung là Nguyễn Hoàng Thanh T2, Nguyễn Hoàng Thanh Q, Nguyễn Hoàng Thanh T3 và Nguyễn Hoàng Thanh T9 được hưởng 01 chung 01 kỷ phần thừa kế mà bà B1 được được hưởng từ cụ H10.

[2.6] Hàng thừa kế thứ nhất của cụ B2 gồm 03 người (con chung với cụ H10 và con riêng của cụ B2) gồm: ông Nguyễn Ú (vợ là bà Nguyễn Thị Phương M và 04 con chung là Nguyễn Hoàng Thanh T2, Nguyễn Hoàng Thanh Q, Nguyễn Hoàng Thanh T3 và Nguyễn Hoàng Thanh T9); bà Nguyễn Thị T; bà Nguyễn Thị T12 (ông Trần Văn C, Trần Thị Hồng H, Trần Văn T4, bà Nguyễn Thị Lệ H8). Ông P4 (chết), có vợ chết trước ông P4 và vợ chồng không có con, không có người thừa kế. Bà Nguyễn Thị T12 (chết năm 2014), nên hàng thừa kế chuyển tiếp của bà T12 được hưởng thừa kế của cụ B2 gồm: chồng ông Nguyễn Nhân Khắc T15 và con là ông Trần Văn C, bà Trần Thị Hồng H, ông Trần Văn T4, bà Nguyễn Thị Lệ H8.

[3] Phân chia di sản của cụ H10, cụ B2: căn cứ vào nội dung đã được phân tích và xác định về hàng thừa kế thế vị, chuyển tiếp nêu trên. Từ đó, Toà án cấp sơ thẩm đã chia, cụ thể như sau: [3.1] Chia di sản của Cụ H10: 1.012.694.752 đồng : 8 = 126.586.844 đồng/suất (Cụ N = bà Nguyễn Thị R1 = bà Nguyễn Thị T16 = bà Nguyễn Thị T17 = bà Nguyễn Thị C4 (chia 09 người, mỗi người 01 suất 14.065.204.888 đồng, cụ thể bà Trần Thị T5, bà Trần Thị M3, ông Trần Văn P1, ông Trần Văn H1, ông Trần Minh N, Trần Văn Q3 (bà Châu Thị T7, chị Trần Thị Thảo V, chị Trần Thị Thảo M1, mỗi người được nhận là 4.688.401 đồng), bà Trần Thị N4 (chị Huỳnh Thị Hiền P2, anh Huỳnh Tấn H3, mỗi người nhận 7.032.602 đồng), ông Trần Văn T13 (anh Trần Nhật N3, chị Trần Thị Thùy L2, mỗi người là 7.032.602 đồng), bà Trần Thị H (con nuôi)) = bà Nguyễn Thị B3 (bà Nguyễn Thị Ngọc H6; Nguyễn Ngọc P3; bà Nguyễn Thị Ngọc H7 mỗi người 42.195.614 đồng) = ông 22 Nguyễn Văn L8 (ông Nguyễn Văn S1 (bà Nguyễn Thị Thanh L3, anh Nguyễn Văn H4, anh Nguyễn Văn Minh V1, chị Nguyễn Thị Thùy H5 mỗi người được nhận là 4.520.958 đồng), bà Nguyễn Thị Kiều N1, bà Nguyễn Thị Kiều H2, bà Nguyễn Thị Kiều D, ông Nguyễn Văn T6, ông Nguyễn Văn L1, bà Nguyễn Thị Kiều N2, mỗi người là 18.083.834 đồng) = ông Nguyễn Ú1 (bà Nguyễn Thị Phương M, bà Nguyễn Hoàng Thanh T2, ông Nguyễn Hoàng Thanh Q, ông Nguyễn Hoàng Thanh T3, bà Nguyễn Hoàng Thanh T9, mỗi người 25.317.368 đồng). [3.2] Chia di sản của Cụ B2: 1.012.694.752 đồng + 126.586.844 đồng (phần được hưởng từ cụ H10) = 1.139.281.596 đồng : 3 = 379.760.532 đồng, cụ thể: bà Nguyễn Thị T18 = ông Nguyễn Ú2 (bà Nguyễn Thị Phương M, bà Nguyễn Hoàng Thanh T2, ông Nguyễn Hoàng Thanh Q, ông Nguyễn Hoàng Thanh T3, bà Nguyễn Hoàng Thanh T9, mỗi người 75.952.106 đồng) = bà Nguyễn Thị T19 (ông Trần Văn C, bà Trần Thị Hồng H, ông Trần Văn T4, bà Nguyễn Thị Lệ H8, mỗi người 94.940.133 đồng).

[4] Căn cứ vào văn bản thỏa thuận và văn bản từ chối nhận di sản của cụ H10 và tặng cho kỷ phần mà mình được hưởng cho vợ chồng ông Nguyễn Ú và bà Nguyễn Thị Phương M của những hàng thừa kế của cụ H10 và cụ S. Do đó, vẫn tiến hành chia thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế của cụ H10 và cụ B2, trong đó kỷ phần bà Nguyễn Thị B1, bà Nguyễn Thị T1, bà Nguyễn Thị R, bà T, bà T5 (Dậu, con bà Nguyễn Thị C1), ông L1 (con của ông Nguyễn Văn L4), bà Nguyễn Thị Phương M, bà Nguyễn Hoàng Thanh T2, ông Nguyễn Hoàng Thanh T3, bà Nguyễn Hoàng Thanh T9 tự nguyện tặng cho giá trị xây dựng làm thêm của ông Ú, bà M, cũng như chi phí thanh toán tiền bảo quản di sản đều tặng cho ông Nguyễn Hoàng Thanh Q. Do đó, hàng thừa kế được hưởng như sau: Ông Q được nhận tổng số tiền 1.664.659.602 đồng, cụ thể: 225.043.278 đồng (thanh toán bảo quản di sản) + 126.586.844 đồng (kỷ phần bà B1 là Nguyễn Thị Ngọc H6, Nguyễn Ngọc P3, bà Nguyễn Thị Ngọc H7) + 126.586.844 đồng (kỷ phần bà T1) + 126.586.844 đồng (kỷ phần bà R) + 14.065.205 đồng (kỷ phần bà T5) + 14.065.205 đồng (kỷ phần ông L1) + 126.586.844 đồng (kỷ phần ông Ú) + 379.760.532 đồng (kỷ phần ông Ú) + 126.586.844 đồng (kỷ phần bà T) + 379.760.532 đồng (kỷ phần bà T) + 15.012.000 đồng (phần xây dựng công trình do bà M xây dựng). Bà Trần Thị M3, ông Trần Văn H1, ông Trần Văn P1, ông Trần Minh N, bà Trần Thị H, mỗi người hưởng 14.065.205 đồng/người. Bà Châu Thị T7, chị Trần Thị Thảo V, chị Trần Thị Thảo M1, mỗi người được hưởng 4.688.402 đồng/người. Chị Huỳnh Thị Hiền P2, anh Huỳnh Tấn H3, mỗi người hưởng 7.032.603 đồng/người. Anh Trần Nhật N3, chị Trần Thị Thùy L2, mỗi người 23 được hưởng 7.032.603 đồng/người. Bà Nguyễn Thị Kiều N1, bà Nguyễn Thị Kiều H2, bà Nguyễn Thị Kiều D, ông Nguyễn Văn T6, bà Nguyễn Thị Kiều N2, mỗi người 18.089.835 đồng/người. Bà Nguyễn Thị Thanh L3, anh Nguyễn Văn H4, anh Nguyễn Văn Minh V1, chị Nguyễn Thị Thùy H5 mỗi người được hưởng di sản của cụ H10 4.520.959 đồng/người. Ông Trần Nhân Khắc T10 được nhận giá trị phần xây dựng 7.657.650 đồng. Ông Trần Văn C được hưởng di sản của cụ B2 33.334.568 đồng (giá trị phần xây dựng) + 94.940.133 đồng (kỷ phần thừa kế bà T12) = 128.274.701 đồng. Bà Trần Thị Hồng H, bà Nguyễn Thị Lệ H8, ông Trần Văn T4 được hưởng di sản của cụ B2, mỗi người 94.940.133 đồng/người.

[5] Giao hiện vật: Ông Nguyễn Hoàng Thanh Q là con của vợ chồng ông Nguyễn Ú và bà Trần Thị Phương M3 đã sinh sống tại nhà đất là di sản thừa kế từ năm 1983, đây cũng là nơi gia đình ông Q thờ cúng cụ Nguyễn H10, cụ Trần Thị B. Hơn nữa, ông Q được chia và được nhận tặng cho tổng số tiền 1.664.659.602 đồng nên cần giao toàn bộ công trình xây dựng nhà đất cho ông Q sở hữu, sử dụng; đồng thời, buộc ông Q phải có nghĩa vụ thối trả cho các đồng thừa kế theo giá trị kỷ phần nêu trên là phù hợp. Hiện nay gia đình ông Trần Văn C đang sử dụng công trình nhà mái tôn (phần cuối của nhà đất) với diện tích 18,90m2. Ông C chỉ được chia 01 phần di sản tương ứng với giá trị 94.940.133 đồng và được thối trả phần giá trị xây dựng 33.334.568 đồng. Hơn nữa, diện tích công trình nhà mái tôn mà gia đình ông C đang sử dụng không đảm bảo diện tích tách thửa theo quy định của UBND thành phố Đ, nên không có căn cứ để giao di sản là hiện vật cho ông Trần Văn C. Do đó, buộc vợ chồng ông Trần Văn C, bà Đào Thị Vân H9, cháu Trần Ngọc Như Ý, cháu Trần Ngọc Khắc T11 phải giao công trình nhà mái tôn với diện tích 18,90m2 tại địa chỉ K N, tổ B, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng cho ông Nguyễn Hoàng Thanh Q sở hữu, sử dụng, sau khi ông Q thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán cho ông Trần Văn C.

[6] Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, những nội dung được phân tích tại các mục [1], [2], [3], [4], [5] nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: kháng cáo của ông Nguyễn Hoàng Thanh Q, bà Nguyễn Thị Phương M, bà Nguyễn Hoàng Thanh T9, ông Nguyễn Hoàng Thanh T3, bà Nguyễn Hoàng Thanh T2 là không có căn cứ chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 264/2025/DS- PT NGÀY: 10-6-2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 264/2025/DS- PT NGÀY: 10-6-2025

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan