
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về hình thức đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm. Ngày 18/9/2022, nguyên đơn Công ty cổ phần T5 (Công ty T5) kháng cáo yêu cầu hủy án vì cấp sơ thẩm đánh giá không đúng tính chất vụ án và các chứng cứ có trong hồ sơ và vi phạm thủ tục tố tụng nên đề nghị hủy án. Ngày 19/9/2022, bị đơn Công ty cổ phần V (Công ty V) kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng: Không công nhận Công ty T5 là cổ đông sở hữu 19.149,6 cổ phần tại Công ty V. Công nhận kết quả tạm thời chia cổ tức năm 2021 của Công ty V. Ngày 18/9/2022, ông Ngô Sỹ T1 kháng cáo hủy bản án sơ vì cấp sơ thẩm đánh giá không đúng chứng cứ và không xem xét hủy quyết định chia cổ tức và có vi phạm về thủ tục tố tụng. Ngày 21/9/2022, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông kháng nghị hủy bản án sơ thẩm số 01/2022/KDTM-ST.
[1] Về thẩm quyền xét xử: Căn cứ Điều 37, 38 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định đúng thẩm quyền.
[2] Về tư cách người tham gia tố tụng: Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định đúng không bỏ sót người tham gia tố tụng.
[3] Về quan hệ tranh chấp: Cấp sơ thẩm xác định đúng quan hệ tranh chấp.
[4] Về nội dung: Ngày 16/5/2021, Công ty T5 nhận chuyển nhượng 285.000 cổ phần phổ thông từ ông Ngô Sỹ T1 (người đại diện theo pháp luật của Công ty V. Giá trị chuyển nhượng 5.200.000.000 đồng. Thủ tục chuyển nhượng đã hoàn tất, Công ty T5 đã thanh toán đủ số tiền chuyển nhượng cho ông Ngô Sỹ T1. Tuy nhiên, ngày 11/01/2022, ông Nguyễn Văn H tiến hành lấy ý kiến cổ đông bằng phiếu lấy ý kiến cổ đông với tư cách là Chủ tịch HĐQT của Công ty V về việc tạm ứng phân phối cổ tức năm 2021 cho cổ đông nhưng Công ty T5 là cổ đông nhưng không được lấy ý kiến và không được chia cổ tức năm 2021. Vì vậy, Công ty T5 khởi kiện yêu cầu công nhận Công ty T5 là cổ đông sở hữu 285.000 cổ phần phổ thông, đồng thời hủy bỏ việc phân phối cổ tức năm 2021. Bị đơn Công ty V trình bày: Ngày 26/6/2019 ông T1 chuyển nhượng 100.000 cổ phần cho cổ đông, cụ thể: chuyển nhượng cho ông Nguyễn Duy T3 10.000 cổ phần giá 150.000.000 đồng; chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị T2 40.000 cổ phần giá 1.250.000.000 đồng, chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H 50.000 cổ phần giá 1.250.000.000 đồng. Ngày 16/5/2020, Công ty V đã ban hành quyết định hủy số cổ phần tăng thêm. Như vậy, ông T2 không còn nắm giữ cổ phần trong Công ty V. Ngày 19/5/2021, ông T2 chuyển nhượng cho Công ty T5 285.000 cổ phần là chuyển nhượng khống, ông T2 phải chịu trách nhiệm cá nhân với Công ty T5, Công ty V không chịu trách nhiệm về việc chuyển nhượng khống nêu trên. Công ty T5 không phải là cổ đông sở hữu cổ phần trong Công ty V nên Công ty V không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty T5. Tại bản án sơ thẩm đã tuyên: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty T5: công nhận công ty cổ phần T5 là cổ đông sở hữu 19.146,6 cổ phần tại công ty cổ phần V kể từ ngày thực hiện xong hợp đồng chuyển nhượng cổ phần. Hủy kết quả tạm thời chia cổ tức năm 2021 của Công ty V. Đình chỉ giải quyết việc yêu cầu độc lập của ông Ngô Sỹ T1.
[5] Nhận định của Hội đồng xét xử: Việc Tòa án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận 19.146,6 cổ phần chứ không phải là 285.000 cổ phần là thiếu căn cứ và việc đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của ông Ngô Sỹ T1 là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.
[5. 1] Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty T5 về việc công nhận Công ty T5 là cổ đông sở hữu 285.000 cổ phần trong công ty CP V từ ngày 16-5-2021. Việc tăng vốn điều lệ từ 259.000 cổ phần lên 890.000 cổ phần tương đương vốn điều lệ 8.960.000.000 đồng. Nội dung này đã được Đại hội đồng cổ đông thống nhất sửa đổi trong Điều lệ sửa đổi lần 2 năm 2016, thể hiện tại biên bản họp HĐQT mở rộng vào các ngày 20, 27-2- 2016 và ngày 29-4-2016 và được Sở Kế hoạch đầu tư tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh lần thứ 4 với số vốn điều lệ là 8.960.000.000 đồng, trong đó cổ đông sáng lập Ngô Sỹ T1 nắm giữ 426.000 cổ phần. Đến thời điểm hiện tại thì vốn điều lệ của Công ty V chưa được đăng ký thay đổi. Việc tăng vốn điều lệ bằng việc tăng cổ phần là phù hợp với quy định của Khoản 3 Điều 111, Điều 123 Luật Doanh nghiệp 2014 và đã được các cổ đông nộp tiền. Trong quá trình giải quyết vụ án Công ty V cho rằng ông T1 lừa các cổ đông công ty ký vào điều lệ sửa đổi sau đó rút, tráo đổi trang có Điều 10 theo ý đồ của ông T1 là không có cơ sở và không phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có căn cứ xác định đến thời điểm hiện tại số cổ phần của Công ty V là 896.000 cổ phần tương đương 8.960.000.000 đồng. Việc chuyển nhượng cổ phần của ông Ngô Sỹ T1: Căn cứ sổ theo dõi cổ đông quản lý cổ phần, trước nhiệm kỳ 03 ông T1 sở hữu 40.300 cổ phần. Căn cứ sổ theo dõi cổ đông quản lý cổ phần sáng lập tháng 10/2014 là 228.300 cổ phần. Ngày 30/7/2017, bổ sung cổ phần quỹ và mua cổ phần của các cổ đông khác, tổng cộng ông T1 có 426.500 cổ phần được Sở kế hoạch và đầu tư ghi nhận. Ngày 10-4- 2019 ông T1 nhận chuyển nhượng của bà T4 29.500 cổ phần, ngày 28-6-2019 ông T1 chuyển nhượng cho ông H 39.600 cổ phần, bà T1 15.000 cổ phần, ông T3 10.000 cổ phần đây là cổ phần sáng lập của ông T1; chuyển nhượng sang cổ phần quỹ 70.000 cổ phần, cho anh N 1.000 cổ phần. Tổng cộng ông T1 đã chuyển nhượng 171.000 cổ phần, còn lại 285.000 cổ phần. Ngày 16-5- 2021 ông T1 chuyển nhượng cho Công ty T5 285.000 cổ phần, đây là số cổ phần phổ thông của ông T1 sau khi đăng ký thành lập doanh nghiệp vì vậy ông T1 có quyền chuyển nhượng theo quy định tại Điều 120, 127 Luật Doanh nghiệp 2020. Do đó việc chuyển nhượng giữa Công ty T5 và ông T1 là hợp pháp. Việc ghi Công ty T5 vào số đăng ký cổ đông: Ngày 18/6/2021, ông Ngô Sỹ T1 đã đăng ký ghi Công ty T5 vào sổ cổ đông. Xét thấy tuy ngày 19/7/2019 Đại hội đồng cổ đông họp họp bầu ông Nguyễn Văn H là Chủ tịch hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2019- 2023. Tại thời điểm này Điều lệ doanh nghiệp có quy định Đại hội cổ đông có quyền bầu chủ tịch Hội đồng quản trị. Tuy nhiên, quy định này của Điều lệ đã không còn phù hợp với Luật Doanh nghiệp 2014. Tại khoản 2 Điều 135 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “Đại hội đồng cổ đông bầu ra Hội đồng quản trị và Hội đồng quản trị bầu ra Chủ tịch Hội đồng quản trị”. Như vậy, việc ông H được Đại hội đồng cổ đông bầu làm Chủ tịch Hội đồng quản trị là không đúng quy định của Luật Doanh nghiệp nên không có giá trị về mặt pháp lý, cho nên việc ông T1 ghi nhận Công ty T5 vào số đăng ký cổ đông là đúng quy định Điều lệ. Do đó, việc Công ty T5 khởi kiện yêu cầu công nhận là cổ đông của Công ty V nắm giữ 285.000 cổ phần là hoàn toàn có căn cứ. Ngày 16-5-2020, Hội đồng quản trị ban hành quyết định số 01/QĐ-HĐQT hủy bỏ cổ phần khống, cổ phần quỹ của 62 cổ đông sở hữu 636.500 cổ phần, trong đó ông T1 bị hủy 285.000 cổ phần là trái quy định của Luật Doanh nghiệp, bởi lẽ như trên đã phân tích: Đại hội đồng cổ đông thường niên nhiệm kỳ 2019 -2023 chưa bầu Hội đồng quản trị. Hơn nữa, số cổ phần tăng lên của công ty không phải là cổ phần khống mà dựa trên việc tăng vốn điều lệ trên cơ sở phát hành cổ phần trên vốn chủ sở hữu tương đương giá trị thật của tài sản tại thời điểm cổ phần hóa đã được cơ quan chuyên môn định giá và được các cổ đông đóng tiền, cho nên Quyết định số 01/QĐ-HĐQT ngày 16/5/2020 về việc hủy bỏ cổ phần khống, cổ phần quỹ của 62 cổ đông sở hữu 636.500 cổ phần là trái với quy định của Luật Doanh nghiệp. Cấp sơ thẩm dựa vào số tiền ông T1 được nhận theo Hội nghị cổ đông ngày 13/4/2019 để xác định ông T1 chỉ còn 191.496.000 đồng = 19.149,6 cổ phần và chỉ công nhận ông T1 chuyển nhượng cho Công ty T5 19.149,6 cổ phần còn 265.850,6 cổ phần trong 285.000 cổ phần ông T1 chuyển nhượng cho Công ty T5 cấp sơ thẩm cho rằng là cổ phần khống đã bị hủy bỏ theo Quyết định số 01/QĐ-HĐQT ngày 16/5/2020. Nhận định trên của cấp sơ thẩm là không đánh giá đúng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và không áp dụng đúng khoản 5 Điều 111 Luật Doanh nghiệp 2014.
[5. 2] Xét nội dung ông Ngô Sỹ T1 yêu cầu độc lập đề nghị hủy bỏ Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông ngày 26-4-2022. Về quyền đề nghị hủy bỏ: Theo sổ đăng ký cổ đông ngày 27/6/2019 ông Ngô Sỹ T1 đã chuyển nhượng cho bà T1 40.000 cổ phần. Tuy nhiên, theo hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Ngô Sỹ T1 và bà T1 có thỏa thuận nếu trong 1 năm bà T1 không thanh toán thì bà T1 phải trả lại 56.500 cổ phần. Vì vậy, ngày 04/01/2021 và ngày 21/01/2021 ông T1 đã lấy lại 56.500 cổ phần từ bà Nguyễn Thị T2. Ông Ngô Sỹ T1 có 341.500 cổ phần, đến ngày 18/6/2021 chuyển nhượng cho Công ty T5 285.000 cổ phần thì ông T1 còn lại 56.500 cổ phần chiếm 63% cổ phần công ty.
– Thẩm quyền triệu tập Đại hội đồng cổ đông: Căn cứ Điều 140 Luật Doanh nghiệp 2020 thì Hội đồng quản trị triệu tập nhưng Đại hội đồng cổ đông nhiệm kỳ 2019- 2023 chỉ bầu Chủ tịch quản trị mà không bầu Hội đồng quản trị là trái với Luật Doanh nghiệp cho nên ông H triệu tập Đại hội đồng cổ đông thường niên là trái với Điều 140 Luật Doanh nghiệp 2020.
– Về thành phần cổ đông tham dự Hội nghị: Công ty T5 sở hữu 285.000 cổ phần và một số cổ đông khác cũng nắm giữ cổ phần nhưng không được mời tham dự là không phù hợp với Điều lệ, với số cổ phần theo giấy chứng nhận doanh nghiệp lần thứ tư.
– Nội dung Đại hội: quyết định giảm vốn điều lệ của công ty từ 8.959.150.000 đồng xuống còn 2.590.000.000 đồng là trái với khoản 5 Điều 112 Luật Doanh nghiệp 2020. Đối với nội dung miễn nhiệm chức danh Trưởng ban kiểm soát của ông Ngô Sỹ T1 là trái với điểm c khoản 2 Điều 138, khoản 2 Điều 168, Điều 174 Luật Doanh nghiệp 2020. Vì vậy ông T1 có quyền yêu cầu độc lập đề nghị hủy bỏ nghị quyết là đúng quyền, trong thời hạn luật định và có căn cứ nên được chấp nhận. Việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định yêu cầu độc lập của ông T1 thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp huyện nên đình chỉ giải quyết là sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng Bộ luật tố tụng dân sự. Bởi ông T1 trong vụ án này là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nên ông có quyền yêu cầu độc lập và đối với yêu cầu độc lập thì Bộ luật tố tụng dân sự không quy định thẩm quyền cấp nào giải quyết theo Điều 201 Bộ luật tố tụng dân sự. Từ những phân tích trên có căn cứ để xác định bản án Kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2022/KDTM-ST ngày 08/9/2022 về việc “Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; yêu cầu hủy kết quả chia cổ tức, yêu cầu hủy nghị quyết Đại hội đồng cổ đông” của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, có sai lầm nghiêm trọng trong việc đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự cho nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông hủy bản án sơ thẩm số 01/KDTM-ST ngày 08/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông để giải quyết lại theo thủ tục chung.
[6] Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, kháng cáo của bị đơn. Chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông hủy bản án kinh doanh thương mại số 01/2022/KDTM-ST ngày 08/9/2022 về việc “Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; yêu cầu hủy kết quả chia cổ tức, yêu cầu hủy nghị quyết Đại hội đồng cổ đông” của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông nên được chấp nhận.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 149/2024/KDTM-PT NGÀY 23-07-2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 149/2024/KDTM-PT NGÀY 23-07-2024
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn