
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: 10 Ngày 29/9/2022 ông Lê C, bà Đỗ Thị M kháng cáo và các ngày 03, 04/10/2022 ông Lê T1, ông Lê Văn P kháng cáo Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 13/2022/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk. Như vậy, kháng cáo này là trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, do đó Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. ông Cao Minh N1 là người đại diện theo uỷ quyền của ông Lê Văn P có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Cao Minh N1. Bản án Hôn nhân và Gia đình phúc thẩm số 09/2020/HNGĐ-PT ngày 10 tháng 6 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử và quyết định về quan hệ hôn nhân, con chung giữa bà Trần Thị L với ông Lê T1; huỷ phần tài sản chung của bà Trần Thị L với ông Lê T1 để xét xử sơ thẩm lại. Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk thụ lý và xét xử sơ thẩm phần tài sản chung của bà Trần Thị L với ông Lê T1 tại Bản án Hôn nhân và Gia đình sơ thẩm số 13/2022/HNGĐ-ST ngày 20 tháng 9 năm 2022. Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, đương sự cung cấp Trích lục khai tử số 356/TLKT-BS ngày 04/5/2023 của UBND xã Q thể hiện: ông Lê T1 chết ngày 03/5/2023. Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng đã quyết định uỷ thác thu thập chứng cứ đối với những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông T1. Kết quả uỷ thác xác định: ông Lê H, bà Đặng Thị T2 là bố, mẹ của ông T1; cháu Lê Thị Y, cháu Lê Thị Như Ý là con của ông T1, bà L. ông H, bà T2, cháu Ý có đơn xét xử vắng mặt. cháu Lê Thị Y uỷ quyền cho bà Trương Thị Thu T3.
[2] Quá trình giải quyết vụ án tại Toà án cấp sơ thẩm, bà Cao Thị N tự nguyện rút một phần nội dung khởi kiện đối với yêu cầu hủy Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 002/2020/EIBBMT/PGDPCT-HĐTC ngày 08/01/2020 giữa Ngân hàng TMCP X với ông C, bà M. Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đình chỉ giải quyết đối với nội dung này là có căn cứ, đúng pháp luật. [3] Xét kháng cáo của ông Lê C, bà Đỗ Thị M; ông Lê T1; ông Lê Văn P:
[3.1] Đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ số 85, diện tích 2.085,6m2 theo GCNQSDĐ số BO 090532 do UBND huyện C cấp ngày 28/3/2019 cho ông Lê C, bà Đỗ Thị M: Ngày 21/5/2012 UBND huyện C cấp GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 354303 cho ông Lê C, bà Đỗ Thị M đối với thửa đất số 98, tờ bản đồ số 19, diện tích 4.400m2 đất. Tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Tại Biên bản thống nhất gia đình ghi ngày 21/8/2014 thể hiện nội dung: “… chúng tôi tổ chức họp gia đình và thống nhất ký vào biên bản này với nội dung sự việc như sau: Tháng 6/2000 bố mẹ chúng tôi cho họp gia đình và đã bán cho 2 anh em mỗi người 2.200m2 nhưng còn chung trong thửa đất số 98, tờ bản đồ số 19, GCNQSDĐ BI 354303 đứng tên Lê C và Đỗ Thị M. Nay vợ chồng T1 – Liền muốn 11 tách riêng phần đất của mình để làm thủ tục cấp GCNQSDĐ của thửa đất trên, do đó chúng tôi họp gia đình và thống nhất ký tên vào biên bản này để tạo điều kiện cho vợ chồng T1 – Liền hoàn tất các thủ tục hồ sơ với pháp luật…”. Biên bản có thể hiện chữ ký của Lê C, Đỗ Thị M, Lê T1, Trần Thị L (bút lục số 123). Tại Giấy xác nhận thống nhất gia đình ngày 21/8/2014 thể hiện nội dung: “… tài sản chung thửa đất số 98, tờ bản đồ số 19, GCNQSDĐ (BI 354303) đứng tên Lê C và Đỗ Thị M hiện tại chấp nhận sang nhượng giấy xác nhận cho vợ chồng Lê T1 và Trần Thị L là 2.200m2 trong số thửa đất số 98, tờ bản đồ 19 GCNQSDĐ (BI 354303) được sự đồng ý chấp nhận sang nhượng trong tài sản 4.400m2 Tưởng Liền là 2.200m2 …”. Giấy xác nhận có thể hiện chữ ký của Lê C, Đỗ Thị M và chữ ký xác nhận của hàng xóm, TM-BTQ Hiệp Huy (bút lục số 124). Kết luận giám định số 15/PC54 ngày 08/5/2017 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ đối với chữ kí, chữ viết đứng tên Lê C và Đỗ Thị M trong Giấy xác nhận thống nhất gia đình và Biên bản thống nhất gia đình cùng ngày 21/8/2014 thể hiện: “… 5.1. Chữ kí, chữ viết đứng tên Đỗ Thị M trong các tài liệu cần giám định kí hiệu A1, A2 so với chữ kí, chữ viết đứng tên Đỗ Thị M trong các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M2, M3, M4 là do cùng một người kí và viết ra. 5.2. Chữ kí, chữ viết đứng tên Lê C trong các tài liệu cần giám định kí hiệu A1, A2 so với chữ kí, chữ viết đứng tên Lê C trong các tài liệu mẫu so sánh kí hiệu M1, M2, M4 là do cùng một người kí và viết ra…” (bút lục số 126). Như vậy nguồn gốc thửa đất số 17, tờ bản đồ số 85, diện tích 2.085,6m2 theo GCNQSDĐ số BO 090532 do UBND huyện C cấp ngày 28/3/2019 cho ông Lê C, bà Đỗ Thị M được tách ra từ thửa đất số 98, tờ bản đồ số 19, diện tích 4.400m2 theo GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 354303 do UBND huyện C cấp ngày 21/5/2012 cho ông Lê C, bà Đỗ Thị M. Hơn nữa, bản đồ giải thửa đối với thửa đất số 16, tờ bản đồ số 85, diện tích 2.168,9m2 đứng tên là ông Lê C và bản đồ giải thửa đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ số 85, diện tích 2.085,6m2 đứng tên là ông Lê Tưởng .1 Thực tế ông Lê T1, bà Trần Thị L đã xây dựng nhà ở và sử dụng cùng gia đình liên tục, ổn định đối với thửa đất số 17, tờ bản đồ số 85, diện tích 2.085,6m2 và không có tranh chấp. Đồng thời, thửa đất số 16 với thửa đất số 17, cùng tờ bản đồ số 85 có ranh giới là hàng rào ngăn cách rõ ràng. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đối chiếu quy định của pháp luật để xác định thửa đất số 17, tờ bản đồ số 85, diện tích 2.085,6m2 là tài sản chung của ông T1, bà L là có căn cứ, đúng pháp luật. Đồng thời, có xem xét đến công sức đóng góp của các bên để hình thành tài sản chung. Từ đó, quyết định chia cho ông T1 60% và bà L 40% tổng giá trị tài sản là có căn cứ pháp luật.
[3.2] Đối với yêu cầu huỷ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất: Như nội dung được phân tích tại tiểu mục [3.1] nêu trên. Thửa đất số 17, tờ bản đồ số 85, diện tích 2.085,6m2 là tài sản chung của ông T1, bà L. Mặc dù diện tích đất này ông Lê C, bà Đỗ Thị M được UBND huyện C cấp GCNQSDĐ số BO 090532 12 ngày 28/3/2019 nhưng ông C, bà M đã dùng tài sản này để thế chấp vay tiền tại Ngân hàng TMCP K2 là làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trần Thị L, ông Lê Tưởng .1 Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu huỷ một phần Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 008/21/HĐTC-BĐS/0701-6161 ngày 18/01/2021 giữa Ngân hàng TMCP K2 với ông Lê C, bà Đỗ Thị M đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa số 17, tờ bản đồ số 85 và Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này của người đại diện theo pháp luật của bà Trần Thị L là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3.3] Đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 18 (nay là thửa đất số 06, tờ bản đồ số 20) diện tích 11.625m2 : Quá trình giải quyết vụ án, ông P cho rằng: năm 1999 ông mua của ông T10 khoảng 01 ha đất không có giấy tờ sở hữu, hai bên có viết giấy tay. Đến năm 2001 ông P chuyển nhượng cho ông T1 với giá 30.000.000đ, ông T1 đã trả trước 10.000.000đ. Số tiền còn lại 20.000.000đ ông P cho ông T1 trả trong thời hạn 03 năm. Hết 03 năm ông T1 không trả nên ông P đòi ông T1 trả lại 07 sào, ông T1 được quyền sử dụng 03 sào tương đương với số tiền 10.000.000đ mà ông T1 đã trả trước đó. Tuy nhiên, ông P tiếp tục cho ông T1 thuê lại diện tích 07 sào với thời hạn 15 năm kể từ ngày 20/11/2003 đến ngày 20/11/2018 với số tiền thuê là 22.500.000đ. ông T1 đã thanh toán được 20.000.000đ, số tiền còn lại ông P không yêu cầu ông T1 trả. Xét thấy: ông Lê Văn P không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc ông T10 sở hữu hợp pháp đối với diện tích đất mà ông T10 chuyển nhượng cho ông P. Các loại giấy tờ liên quan đến việc mua bán, thu hồi, thuê lại giữa các bên không có chứng thực của chính quyền địa phương. Hơn nữa, Giấy thu hồi đất đề ngày 05/5/2004 giữa ông P với ông T1 ghi thời gian cho thuê là 15 năm tính từ ngày 20/11/2003 đến ngày 20/11/2018, trong khi bà L chưa phát bệnh nhưng không tham gia việc thu hồi đất. Đồng thời, sau ngày 20/11/2018 ông P không có ý kiến gì về việc ông T1, bà L sử dụng diện tích đất này. Khi Toà án cấp sơ thẩm quyết định đưa vụ án ra xét xử (ngày 09/7/2019) thì ông P cung cấp 02 Hợp đồng gia hạn thuê đất, trong đó 01 Hợp đồng gia hạn 02 năm và 01 Hợp đồng gia hạn 03 năm. ông P cho rằng người viết 02 giấy này là ông Trần Hữu N4. Tuy nhiên, ông N4 chỉ thừa nhận có viết 01 giấy. Như vậy, lời trình bày của ông P là có mâu thuẫn và ông P không chứng minh được sự mâu thuẫn này. Thực tế diện tích 11.625m2 ông T1, bà L vẫn tiếp tục sử dụng và kê khai với chính quyền địa phương. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đối chiếu quy định của pháp luật để xác định thửa đất số 50, tờ bản đồ số 18 (nay là thửa đất số 06, tờ bản đồ số 20), diện tích 11.625m2 đất là tài sản chung của ông T1, bà L là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3.4] Đối với yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn T11, bà Bùi Thị N2: 13 Sau khi xét xử sơ thẩm ông Lê Văn T11, bà Bùi Thị N2, bà Cao Thị N và ông Lê T1 không kháng cáo, không bị kháng nghị về nội dung này. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.
[3.5] Việc chia tài sản chung giữa ông Lê T1, bà Trần Thị L: Toà án cấp sơ thẩm đã phân tích, đánh giá và xác định tài sản chung của ông Lê T1, bà Trần Thị L có tổng giá trị là 1.074.164.400đ. Đồng thời, xác định công sức đóng góp của các bên và nhu cầu sử dụng đối với tài sản chia. Từ đó, chia cho ông Lê T1 60% tổng giá trị tài sản chung là 644.498.400đ và bà Trần Thị L 40% tổng giá trị tài sản chung là 429.666.000đ. Cụ thể, giao cho ông Lê T1 được nhận quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 17, tờ bản đồ số 85, diện tích 2.085,6m2 tại thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (có thể hiện tứ cận) có tổng giá trị là 579.826.500đ và giao cho bà Trần Thị L được nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 50, tờ bản đồ số 18 (hiện nay là thửa đất số 06, tờ bản đồ số 20), diện tích 11.625m2 đất tại thôn H, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (có thể hiện tứ cận) có giá trị 494.337.900đ là có căn cứ, đảm bảo quyền lợi hợp pháp và phù hợp với nhu cầu sử dụng đất của các bên. bà Trần Thị L có nghĩa vụ trả lại cho ông Lê T1 số tiền 64.671.900 đồng do chênh lệch giá trị được nhận. ông Lê T1 chết ngày 03/5/2023 (sau khi xét xử sơ thẩm), do vậy phần tài sản giao cho ông Lê T1 sẽ do người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông T1 nhận và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Phần tài sản giao cho bà Trần Thị L sẽ do người giám hộ là bà Cao Thị N nhận và thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. [4] Tại phiên tòa xét xử phúc thẩm hôm nay, các đương sự không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới. Căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung trình bày của đương sự và những nội dung được phân tích tại các mục [1], [2] và [3] nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng: kháng cáo của ông Lê C, bà Đỗ Thị M; ông Lê T1; ông Lê Văn P và lời trình bày của bà Trương Thị Thu T3, của Luật sư Huỳnh Thanh C1 và nội dung Bản trình bày ý kiến của ông Cao Minh N1 là không có căn cứ chấp nhận. Giữ nguyên bản án sơ thẩm
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 10/2023/HNGĐ-PT NGÀY: 23 – 10 – 2023 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 10/2023/HNGĐ-PT NGÀY: 23 – 10 – 2023
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn