NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra xem xét và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Ngày 23/9/2023, Tòa án nhân dân huyện N xét xử vụ án. Ngày 05 và ngày 06/10/2023, nguyên đơn là bà Trương Thị Thu T và bị đơn là ông Bùi B có đơn kháng cáo là còn trong thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, được chấp nhận.
[2] Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp: Bị đơn là ông Bùi B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là các ông, bà Bùi Đ, Bùi H, Bùi Thị T2 yêu cầu tuyên bố các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu.
Như vậy, đối tượng mà các đương sự tranh chấp trong vụ án này là tranh chấp hợp đồng; việc các ông, bà B, Đ, H, T2 yêu cầu tuyên bố các hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu là yêu cầu cụ thể, thuộc về nội dung khi Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá tài liệu, chứng cứ do các đương sự cung cấp và do Tòa án thu thập (nếu có), nhưng Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu” là không chính xác. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xác định lại quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” cho chính xác, đúng với quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Người tham gia tố tụng là ông Phạm Minh Q; các anh, chị Phạm Minh B1, Phạm Minh V, Phạm V, Phạm Minh T3, Phạm Thị Mỹ H1, Hoàng Cảnh T1 và Uỷ ban nhân dân (viết tắt là UBND) xã H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[4] Các ông, bà Bùi B, Bùi Đ, Bùi H, Bùi Thị T2 yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho là cụ Nguyễn Thị C với bên được tặng cho là ông Bùi B, bà Trương Thị Thu T đối với thửa đất số 327, tờ bản đồ số 5, xã H (viết tắt là thửa 327) được UBND xã H chứng thực ngày 01/02/2016 vô hiệu vì cho rằng thửa 327 là tài sản chung của cha, mẹ các ông, bà là cụ Bùi Tấn Ả (chết năm 2000) và cụ Nguyễn Thị C (chết năm 2019). Cụ Ả, cụ C có 05 người con là các ông, bà và bà Bùi Thị B2 (chết năm 2005, có chồng là ông Phạm Minh Q và con là các anh, chị Phạm Minh B1, Phạm Minh V, Phạm V, Phạm Minh T3, Phạm Thị Mỹ H1). Cụ Ả, cụ C chết không để lại di chúc nên thửa 327 là tài sản chung của các ông, bà và người thừa kế của bà B2, nhưng các ông, bà, người thừa kế của bà B2 và cụ C không biết, không ký, không điểm chỉ hợp đồng tặng cho thửa 327; bà T tự ý làm toàn bộ thủ tục tặng cho, chỉnh lý biến động trang 3 cho ông B, bà T vào ngày 16/3/2016 trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là GCNQSDĐ) do UBND huyện N cấp cho hộ cụ Nguyễn Thị C thửa 327 vào ngày 26/10/2015 là không đúng.
[5] Bà Trương Thị Thu T thừa nhận: Thửa 327 là tài sản chung của cha, mẹ chồng của bà là cụ Bùi Tấn Ả (chết năm 2000) và cụ Nguyễn Thị C (chết năm 2019). Cụ Ảnh, cụ C có 05 người con như các ông, bà Bùi H, Bùi Đ, Bùi B, Bùi Thị T2 trình bày; cụ C không biết chữ.
[6] Tại Kết luận giám định số 544/KL-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q đã kết luận: Dấu vân tay điểm chỉ ở tờ thứ nhất của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thể hiện bên tặng cho là cụ Nguyễn Thị C với bên được tặng cho là ông Bùi B, bà Trương Thị Thu T được UBND xã H chứng thực ngày 01/02/2016 không đủ yếu tố giám định; dấu vân tay điểm chỉ ở tờ thứ 2 và 3 của hợp đồng nói trên là do người có dấu vân tay in trên tờ khai chứng minh nhân dân và chỉ bản dấu vân tay 10 ngón số 212795377, họ tên: Nguyễn Thị C – sinh ngày 08/12/1932, nguyên quán: H, N, Quảng Ngãi do Phòng PC06 Công an tỉnh Q cung cấp in ra.
[7] Như nhận định trên, các đương sự thừa nhận thửa 327 là tài sản chung của cụ Ả, cụ C. Năm 2000, cụ Ả chết không để lại di chúc; các đồng thừa kế của cụ Ả không ký vào hợp đồng tặng cho ông B, bà T thửa 327 vào ngày 01/02/2016; cụ C không biết chữ nhưng không có người làm chứng là vi phạm khoản 3 Điều 36 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch. Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của các ông, bà Đ, H, B, T2 về việc tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bên tặng cho là cụ C với bên được tặng cho là ông B, bà T đối với thửa 327, được UBND xã H chứng thực ngày 01/02/2016 vô hiệu là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại phần quyết định của bản án lại không tuyên chấp nhận yêu cầu phản tố của ông B và yêu cầu độc lập của các ông, bà Đ, H, T2.
[8] Tại đơn yêu cầu bổ sung (tài sản chung) đề ngày 10/8/2020 (bút lục 26), bà T yêu cầu chia một bộ bàn ghế salon, một loa kéo karaoke, xe máy biển số 76F1-7613, một máy giặt hiệu toshiba, một tủ quần áo, một bàn trang điểm, tổng giá trị 74.200.000 đồng; bà T đã nộp tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu bổ sung (bút lục 28), nhưng tại Thông báo về việc thụ lý yêu cầu bổ sung số 82/TB-TLVA ngày 16/12/2020 (bút lục 198), Tòa án cấp sơ thẩm lại thụ lý yêu cầu phản tố của bà T với nội dung bà T yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất số 04, quyển số 01/2016TP/CC-SCT/HĐGD giữa cụ C với ông B, bà T được UBND xã H chứng thực ngày 01/02/2016 vô hiệu là không đúng yêu cầu của bà T.
[9] Theo các tài liệu có tại hồ sơ vụ án kể cả tại phiên tòa, Tòa án cấp sơ thẩm chưa giải thích cho các đương sự về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu; ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm cũng chưa giải thích để các đồng thừa kế của cụ Ả, cụ C có yêu cầu chia thừa kế trong cùng vụ án hay không là chưa giải quyết vụ án một cách triệt để, gây khó khăn trong việc thi hành án sau này.
[10] Tại phần nhận định của bản án, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định nhà, mái hiên, tường rào là tài sản chung của ông B, bà T nhưng tại phần quyết định chỉ tuyên giao ngôi nhà, không tuyên giao mái hiên, tường rào gắn liền với thửa 327 cho ông B sở hữu. Mặt khác, theo nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm thì thửa 327 là tài sản chung của các đồng thừa kế của cụ Ả, cụ C là các ông, bà Đ, H, B, T2 và người thừa kế của bà B2, nhưng lại giao tài sản chung của ông B, bà T là ngôi nhà gắn liền với thửa 327 cho ông B sở hữu và có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký sở hữu tài sản được giao, trong khi chưa thể hiện ý kiến của các ông, bà Đ, H, T2 và người thừa kế của bà B2 có đồng ý hay không.
[11] Quá trình giải quyết vụ án, bà T rút một phần yêu cầu, không yêu cầu chia một loa kéo karaoke, một tủ quần áo, một bàn trang điểm và 280m2 đất dự phòng thuộc thửa đất số 325, tờ bản đồ số 5, xã H (bút lục 31, 426) nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu bà T đã rút là không đúng quy định tại khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[12] Ông B thừa nhận: Ông và bà T tổ chức lễ cưới vào năm 1998 nhưng đến năm 2001, ông và bà T mới đăng ký kết hôn; sau khi cưới, ông và bà T chung sống với cụ C tại thửa 327; từ khi bà T có đơn khởi kiện xin ly hôn vào tháng 6/2020, thì bà T mới không còn ở tại thửa 327 nữa; năm 2010, ông và bà T có xây mái hiên, tường rào cổng ngõ (bút lục 131). Bà T cho rằng ông B thường đi làm xa, bà không chỉ là người chăm sóc các con; cha, mẹ chồng mà còn chăm lo vườn tược, nhà cửa; có công duy trì, tôn tạo thửa 327. Tại đơn phản tố đề ngày 07/8/2020 (bút lục 125); văn bản trình bày ý kiến ngày 18/8/2023 (bút lục 132) và tại phiên tòa phúc thẩm, ông B cũng thừa nhận do tính chất công việc nên ông thường xuyên đi xa nhà, bà T là người quán xuyến tất cả mọi việc trong gia đình. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu chia tài sản là thửa 327 của bà T nhưng không xem xét, tính công sức của bà T để chia một phần tài sản trong khối tài sản chung là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 61 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà T. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã phân tích, động viên ông B và các ông, bà Đ, H, T2 (do bà Nguyễn Thị Thùy L là người đại diện theo ủy quyền) xem xét tính một phần công sức cho bà T trong khối tài sản chung của gia đình nhưng các ông, bà Đ, H, T2, B không đồng ý nên Hội đồng xét xử không thể xem xét, giải quyết vì vượt quá phạm vi xét xử phúc thẩm theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[13] Những sai sót nói trên của Tòa án cấp sơ thẩm mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Do đó, cần hủy một phần bản án sơ thẩm về phần chia tài sản khi ly hôn và tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thể hiện bên tặng cho là cụ C với bên được tặng cho là ông B, bà T đối với thửa 327, được UBND xã H chứng thực ngày 01/02/2016 và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Do hủy một phần bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo của bà T, ông B.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 15/2024/HNGĐ-PT NGÀY 05/11/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 15/2024/HNGĐ-PT NGÀY 05/11/2024
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn