Feel free to go with the truth

Trang chủ / Kinh doanh & Thương mại / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Phiên toà phúc thẩm mở lần thứ hai, nguyên đơn Công ty B và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty S2 đều vắng mặt; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn có đơn xin hoãn phiên toà. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng Toà án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên đề nghị HĐXX tiến hành xét xử. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án.

[1.2] Tại phiên toà phúc thẩm, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Nguyễn Xuân H thay đổi nội dung kháng cáo. Ông H đề nghị Toà án cấp phúc thẩm huỷ Bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm. Xét việc thay đổi nội dung kháng cáo không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi này.

[2] Xét Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 21/QĐ-VC2-KDTM ngày 17/10/2023 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần Đ và tư vấn tài chính Asean+, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Ngày 07/9/2018, Công ty TNHH MTV S1 (viết tắt là Công ty S2) và Công ty TNHH B (viết tắt là Công ty B) ký kết hợp đồng mua bán số 01/2018/HĐMB/SHH-VT tại Bản Na lông, huyện N, tỉnh Savannakhet, Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào về nội dung mua bán thùng carton 5 lớp và tấm lót carton 3 lớp. Cùng ngày, Công ty S2 (bên A), Công ty B (bên B) và Công ty cổ phần Đ và tư vấn tài chính Asean+ (bên C) ký phụ lục số 01 (k m theo Hợp đồng mua bán số 01/2018/HĐMB/SHH-VT. Theo đó, bên A chỉ định bên C (đối tác của bên A tại Việt Nam) là đơn vị chịu trách nhiệm thanh toán khoản tạm ứng, khoản tiền thanh toán của bên A cho bên B theo hợp đồng. Bên C đồng ý là đơn vị chịu trách nhiệm thanh toán khoản tiền tạm ứng, khoản tiền thanh toán sau khi đủ điều kiện thanh toán của các khoản thanh toán của bên A cho bên B theo hợp đồng mua bán số 01. Các bên thống nhất rằng bên C trở thành là đơn vị có nghĩa vụ tạm ứng, thanh toán tại Điều 4 của Hợp đồng mua bán số 01. Trong mọi trường hợp, bên A không còn nghĩa vụ thanh toán cho bên B, không chịu trách nhiệm về việc chậm thanh toán của bên C cho bên B. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty B cho rằng: Công ty đã xuất bán hàng hoá cho Công ty S2 tổng cộng 6.850.837.300đồng, Công ty cổ phần Đ+ đã trả 3.966.822.000đồng, còn nợ 2.884.015.300đồng và Công ty B đã căn cứ Bảng đối chiếu công nợ (chi tiết) ngày 31/8/2019 để khởi kiện yêu cầu Công ty cổ phần Đ và tư vấn tài chính Đ+ phải thanh toán số nợ này, tiền lãi chậm trả và tiền phạt vi phạm hợp đồng do chậm thanh toán. Toà án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty B.

[2.2] Xét Toà án cấp sơ thẩm căn cứ Bảng đối chiếu công nợ (chi tiết) ngày 31/8/2019 giữa Công ty B và Công ty S2 để buộc Công ty cổ phần Đ và tư vấn tài chính Đ+ thanh toán cho Công ty B số nợ, lãi chậm trả và phạt vi phạm hợp đồng là chưa có cơ sở, bởi lẽ:

– Bảng đối chiếu công nợ này chưa chứng minh được tư cách đại diện của ông Nguyễn Thanh H1 trong Công ty S2, giữ chức vụ gì và có được Công ty S2 uỷ quyền đối chiếu công nợ hay không? – Tại bản tự khai ngày 24/11/2021, bà Nguyễn Thị Lệ N1 là người đại diện theo uỷ quyền của Công ty B trình bày: ông Nguyễn Thanh H1 là Giám đốc Công ty S2; cư trú tại địa chỉ: chung cư S, phòng A, đường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định; số điện thoại: 096589xxxx nhưng tại phiên toà sơ thẩm, bà N1 lại trình bày: ông Nguyễn Thanh H1 là kế toán trưởng của Công ty S2. Như vậy, lời trình bày của bà N1 có sự mâu thuẫn nhưng Toà án cấp sơ thẩm chưa xác minh làm rõ tư cách đại diện của ông Nguyễn Thanh H1. – Án sơ thẩm chưa điều tra làm rõ con dấu trong Bảng đối chiếu công nợ có phải là con dấu của Công ty S2 hay không và Bảng đối chiếu công nợ cũng không được đóng dấu giáp lai bởi Công ty S2. – Ngoài ra, những người nhận hàng là tài xế lái xe container, đã ký nhận hàng, ký biên bản bàn giao và nghiệm thu hàng hoá tại Công ty B nhưng không có giấy giới thiệu hoặc uỷ quyền đến nhận hàng của Công ty S2 và cũng không có ký xác nhận biên bản giao nhận tại địa điểm Dự án như thoả thuận tại các mục 4, 5 Điều 3 của Hợp đồng mua bán số 01. Án sơ thẩm không tiến hành lấy lời khai của những tài xế ký nhận hàng này.

[3] T những phân tích trên, Hội đồng xét xử thấy rằng, ngoài Bảng đối chiếu công nợ (chi tiết) ngày 31/8/2019 thì không còn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh khoản nợ còn lại là 2.884.015.300 đồng. Toà án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ, tuyên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty B là chưa đủ cơ sở. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty cổ phần Đ+ và chấp nhận Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 21/QĐ-VC2-KDTM ngày 17/10/2023 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, huỷ Bản án sơ thẩm để giải quyết lại.

[4] Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm bị huỷ để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm nên bị đơn Công ty cổ phần Đ và tư vấn tài chính Đ+ không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định tại Điều 148 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, khoản 3 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại cho Công ty cổ phần Đ và tư vấn tài chính Asean+ tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp. Nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm được xác định lại khi giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 07/2024/KDTM-PT NGÀY 24/04/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 07/2024/KDTM-PT NGÀY 24/04/2024 

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

 

Bài viết liên quan