Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Bản án tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Bản án tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của các đương sự, của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn nằm trong hạn luật định và đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm; Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk trong thời hạn luật định nên vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về tài sản chung: Bà Lê Thị L làm đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung và nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân với ông Nguyễn Đình T, bao gồm: Thửa đất số B9 (đất ở đô thị), diện tích 120 m², đã được cấp GCNQSD đất; thửa đất số B10 (đất ở đô thị), diện tích 120 m², đã được cấp GCNQSD đất. Bà L yêu cầu được chia thửa đất B9, chia cho ông T thửa đất số B10. Tổng giá trị 02 thửa đất: 452.140.000 đồng (thửa B9 là 245.838.000 đồng; thửa B10 là 206.302.000 đồng).

[2.2] Về nợ chung:

Đối với khoản vay bà Đoàn Thị L1 160.000.000 đồng ngày 04/3/2019, ông T, bà L cùng vay tiền với mục đích vay để mở gara ô tô cho anh Nguyễn Đình N. Bà L đã vay tiền của người khác để trả lại cho bà L1 vào ngày 23/10/2020. Nay bà L yêu cầu ông T phải thanh toán lại cho bà L 1/2 số tiền đã trả cho bà L là 180.000.000 đồng là phù hợp.

[2.3] Về nợ riêng:

Đối với khoản vay Ngân hàng T chi nhánh M 400.000.000 đồng. Do ông T không về ký, bà L nhờ anh N (con chung của ông T và bà L) ký thay ông T vào hợp đồng. Bà L đồng ý trả toàn bộ số nợ trên cho Ngân hàng và không yêu cầu ông T phải trả. Quá trình giải quyết phúc thẩm thì bà L đã tất toán khoản vay trên cho Ngân hàng và đã được phía Ngân hàng T xác nhận và giao trả các tài sản thế chấp là thửa đất B9 và B10 cho ông T, bà L.

Đối với khoản vay bà Lê Thị Mỹ H (em ruột bà L) 197.000.000 đồng nợ gốc ngày 15/8/2016. Bà L vay không bàn bạc, trao đổi với ông T nên cấp sơ thẩm buộc bà L phải trả lại cho bà H số tiền gốc là 197.000.000 đồng và lãi theo quy định của pháp luật đến ngày xét xử sơ thẩm là 30.818.000 đồng, tổng cả gốc và lãi là 227.818.000 đồng là phù hợp.

[2.4] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Đình T cho rằng ông có ký vào Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 29/3/2019, ông chỉ nhận tiền cọc của ông C 40.000.000 đồng vào ngày 29/3/2019, còn những lần sau ông không đồng ý chuyển nhượng đất cho ông C nữa nên không tham gia các giao dịch nhận tiền mà chỉ có bà T và con trai là Nguyễn Đình N nhận tiền của ông Đinh Văn C, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Hợp đồng chuyển nhượng ngày 29/3/2019, thấy rằng:

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 29/3/2019 được ký kết trong thời kỳ hôn nhân giữa bên chuyển nhượng là ông Nguyễn Đình T, bà Lê Thị L, anh Nguyễn Đình N với bên nhận chuyển nhượng là ông Đinh Văn C là hợp đồng được lập thành văn bản. Tuy văn bản không được công chứng, chứng thực nhưng quá trình giải quyết vụ án hai bên đều thừa nhận hợp đồng đã giao kết là có thật, các bên thực hiện với nhau là tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc, giá trị chuyển nhượng 02 thửa đất là 861.000.000 đồng, ông C đã thực hiện gần 2/3 nghĩa vụ trả tiền chuyển nhượng đất là 520.000.000 đồng và ông C đã nhận đất sử dụng ổn định từ năm 2019 đến nay.

Mặc dù ông T chỉ tham gia ký kết, nhận tiền cọc với số tiền 40.000.000 đồng ngày 29/3/2019, còn những lần nhận tiền sau do bà T nhận tiền; tuy nhiên, ngay sau khi lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, gia đình ông T, bà L đã bàn giao toàn bộ diện tích đất và tài sản trên 02 thửa đất trên cho ông C sử dụng, chăm sóc từ đó đến nay. Ông Nguyễn Đình T không có ý kiến gì về việc chuyển nhượng cho ông C cho đến khi bà Lê Thị L khởi kiện yêu cầu phân chia tài sản sau ly hôn. Ông T, bà L chưa hoàn tất thủ tục chuyển nhượng cho ông C nên ông C chưa giao hết số tiền còn lại là 341.000.000 đồng cho ông T, bà L.

Ông C yêu cầu Tòa án công nhận giao dịch chuyển nhượng đất giữa ông T, bà L và ông C có hiệu lực pháp luật là có căn cứ, do đó kháng cáo của ông Nguyễn Đình T là không có cơ sở chấp nhận.

[2.4] Xét nội dung Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐ-VKS-DS ngày 06/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M kháng nghị với nội dung: 02 thửa đất số B9 và B10 có công trình phụ được xây kiên cố liền nhau không thể tách rời, việc Tòa án chia tài sản chung theo Bản án không thể thi hành án được, cần phải điều chỉnh lại để không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự, thấy:

Sau khi xét xử vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã lập Biên bản làm việc với các đương sự ông T và bà L. Ông T trình bày không kháng cáo về nội dung chia cho bà L thửa đất số B9, diện tích 120 m², còn ông T được chia thửa đất B10, diện tích 120 m².

Khi thi hành bản án, về công trình liền kề là không gian bếp không có tường ngăn cách giữa 02 thửa B9 và thửa B10, ông T và bà L đã thỏa thuận, bà L có nghĩa vụ xây một bức tường ngăn cách hoặc làm hàng rào ngăn cách, đảm bảo không làm ảnh hưởng đến phần nhà trên đất mà ông T được sử dụng. Xét thấy nội dung tuyên của cấp sơ thẩm không làm ảnh hưởng đến việc thi hành án sau này nên không chấp nhận kháng nghị về phần này của Viện kiểm sát nhân dân huyện M.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk cho rằng hành vi của bà L là dùng chữ ký giả để vay vốn Ngân hàng T và giám đốc Ngân hàng ký hợp đồng cho vay là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến tài sản của Nhà nước. Hành vi trên có dấu hiệu hình sự nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn xét xử, không tạm đình chỉ vụ án để chuyển cho Cơ quan Công an huyện M’Đrắk điều tra, xác minh là không đúng quy định, đề nghị hủy Bản án sơ thẩm, thấy:

Quá trình tham gia giải quyết vụ án, bà L đều thừa nhận bà L và ông T đã nhiều lần cùng nhau vay Ngân hàng để lo công việc trong gia đình. Do bà L không có tiền trả cho Ngân hàng nên đã vay của người khác để trả cho Ngân hàng, sau đó làm thủ tục vay ngân hàng trả lại tiền cho người bà L đã vay. Khi lập Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng T ngày 13/12/2018, bà có gọi cho ông T nhưng ông T không đồng ý ký. Ngân hàng tạo điều kiện cho bà L mang Hợp đồng về cho ông T ký, ông T không có nhà và không đồng ý ký, vì vậy bà đã nhờ con trai là anh Nguyễn Đình N ký thay ông T. Bà L thừa nhận chữ ký không phải của ông T.

Ngân hàng T cũng thừa nhận ngày ký Hợp đồng ông T không có mặt tham gia ký kết. Ngân hàng không yêu cầu ông T trả nợ mà chỉ yêu cầu bà L phải trả toàn bộ số tiền còn nợ. Nếu bà L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền đề nghị thi hành án xử lý tài sản thế chấp đối với thửa đất mà bà L được chia. Ngân hàng không yêu cầu xử lý tài sản thế chấp phần tài sản của ông T được hưởng, đồng ý trả lại cho ông T.

Hơn nữa, trong giai đoạn xét xử phúc thẩm thì khoản vay trên đã được bà L tất toán với Ngân hàng và Ngân hàng cũng đã giao trả lại tài sản thế chấp cho bà L. Do vậy, không có cơ sở chấp nhận kháng nghị về phần này của Viện kiểm sát nhân dân huyện M’Đrắk.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xác định và tính toán sai về phần án phí nên cần phải sửa lại. Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đối với nội dung trên là có căn cứ, cần chấp nhận.

[3] Về án phí:

[3.1] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Lê Thị L được chia thửa đất số B9, trị giá 245.838.000 đồng. Vì vậy phải chịu số tiền án phí là 245.838.000 đồng × 5% = 12.291.900 đồng.

Ông Nguyễn Đình T được chia thửa đất số B10, trị giá 206.302.000 đồng. Vì vậy phải chịu số tiền án phí là 206.302.000 đồng × 5% = 10.315.000 đồng.

Bà Lê Thị L phải trả nợ cho Ngân hàng BIDV số tiền 505.161.713 đồng và trả bà H 227.818.000 đồng. Tổng cộng là 732.979.713 đồng. Số tiền án phí phải chịu 33.319.000 đồng (400.000.000 đồng × 5% = 20.000.000 đồng) + 332.979.713 đồng × 4% = 13.319.000 đồng.

Ông Nguyễn Đình T phải trả cho bà Lê Thị L số tiền 80.000.000 đồng. Vì vậy, ông T phải chịu án phí 80.000.000 đồng × 5% = 4.000.000 đồng.

Yêu cầu khởi kiện độc lập của ông Đinh Văn C và bà Lê Thị V được chấp nhận nên bà L, ông T phải chịu án phí không có giá ngạch là 300.000 đồng (mỗi người phải chịu 150.000 đồng).

Ông Đinh Văn C và bà Lê Thị V có nghĩa vụ trả cho ông T, bà L mỗi người 170.500.000 đồng. Vì vậy, ông C, bà V phải chịu án phí có giá ngạch là 341.000.000 đồng × 5% = 17.050.000 đồng.

Đối với yêu cầu khởi kiện độc lập của Ngân hàng BIDV, bà Lê Thị Mỹ H được Tòa án chấp nhận nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 03/2023/HNGĐ-PT NGÀY: 09 – 02 – 2023 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 03/2023/HNGĐ-PT NGÀY: 09 – 02 – 2023

…………….

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan