Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Bản án tranh chấp chia thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Bản án tranh chấp chia thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở những ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 16/01/2023, Tòa án nhận được đơn kháng cáo của bị đơn là bà Nguyễn Thị T1; ngày 02/3/2023, nhận được đơn kháng cáo của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị T, đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 01/2023/DS-ST ngày 09/01/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng là trong thời hạn luật định, nên được xem xét theo quy định của pháp luật (Tòa án cấp sơ thẩm x ét x ử vắng mặt nguyên đơn và ngày 18/02/2023 có biên bản tống đạt bản án cho bà T). Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo là nguyên đơn và bị đơn vắng mặt, nhưng người đại diện theo ủy quyền đã có mặt tại phiên tòa; một số người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai hoặc có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Xét kháng cáo của các đương sự:
[2.1] Về thời hiệu khởi kiện: Theo quy định tại khoản 1 Điều 623 của Bộ luật Dân sự thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế. Đối với trường hợp mở thừa kế trước ngày 10/9/1990 thì thời hiệu khởi kiện được tính từ ngày 10/9/1990 theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và các văn bản hướng dẫn khác của Tòa án nhân dân tối cao. Do đó, tính từ thời điểm cụ Nguyễn Thị X chết năm 1965 và cụ Nguyễn Thế N1 chết năm 1980 đến ngày Tòa án cấp sơ thẩm nhận được đơn khởi kiện của nguyên đơn là ngày 13/01/2022 thì thời hiệu chia thừa kế di sản của hai cụ đã hết. Cụ Nguyễn Thị C1 chết năm 2014 và quan hệ giữa bà T với cụ C1 là con riêng, mẹ kế, nên yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị T là trong thời hiệu khởi kiện.
[2.2] Về quan hệ huyết thống và quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa con riêng và mẹ kế: Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều thống nhất thừa nhận: Cụ Nguyễn Thế N1 và cụ Nguyễn Thị X là vợ chồng, hai cụ có 01 con chung là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1939; năm 1955, cụ N1 lấy cụ C1 làm vợ lẽ và ở cùng với cụ N1, cụ X trong cùng một căn nhà trên diện tích đất khoảng hơn 900 m2 tại Thôn B1, x ã Y, huyện L, thành phố Hải Phòng mà cụ N1, cụ X đã có trước đó. Năm 1957, cụ C1 sinh bà Nguyễn Thị T1 và kể từ đó các cụ, bà T, bà T1 cùng chung sống trong một gia đình và cùng chăm sóc, nuôi dưỡng nhau. Năm 1962, bà T lấy chồng, nhưng vẫn ở cùng với cụ N1, cụ X, cụ C1 và bà T1, cho đến năm 1965, khi cụ X chết thì bà T mới về nhà chồng ở (lúc này bà T1 được 08 tuổi). Ngoài ra, trong nội dung giấy Quyền thừa kế ngày 20/10/2005 thể hiện thì cụ C1 cũng thừa nhận cụ có 02 người con gái: “một người con gái cả lấy chồng khác thôn, người con gái út lấy chồng tại x óm U1 thôn Ngọc Chử, xã Y”; ông Nguyễn Văn Đ Xóm trưởng Xóm U1 x ác nhận: “số DT = 318 m2 là đúng, nay nhượng cho con gái út là bà T1 sử dụng, con gái cả nhất trí rồi…”. Nội dung Biên bản họp gia đình thỏa thuận chia thừa kế ngày 18/9/2020 cũng thể hiện “Bố mẹ chúng tôi để lại mảnh đất tại thôn B1, Y, diện tích 318 m2 hiện do bà T1 đại diện đứng tên sổ đỏ. Nay bố mẹ chúng tôi không còn nữa, chị em tôi thỏa thuận chia phần đất như sau…”. Biên bản x ác minh ngày 12/12/2022 tại UBND x ã Y, L, Hải Phòng thể hiện: Khi cụ C1 còn sống, bà T vẫn thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng cụ C1 như người con đối với mẹ mình, chính quyền địa phương và người dân địa phương nếu không tìm hiểu thì không biết được đấy là mẹ kế con chồng; khi cụ C1 ốm đau, bà T cùng bà T1 và các con cháu trong gia đình đều thực hiện việc trông nom, chăm sóc cụ C1 ở nhà cũng như ở bệnh viện và khi cụ C1 chết bà T có mặt lo toan ma chay với trách nhiệm người con gái lớn trong gia đình; khi cải táng cụ C1, bà T cũng có trách nhiệm, nghĩa vụ thực hiện như người con gái đối với mẹ của mình. Đồng thời, ông Nguyễn Đức T2 là trưởng họ cũng đã x ác nhận: Khi các cụ còn sống thì các cụ sống chung một nhà với 02 con chung là bà T, bà T1; sau khi cụ X và N1 chết thì cụ C1 vẫn sinh sống với 02 con bình thường. Thời gian cụ C1 ốm thì bà T vẫn chăm sóc cụ và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người con trong gia đình kể cả khi cụ C1 chết và sang cát cho cụ thì bà T vẫn thể hiện được trách nhiệm của người con đối với cụ C1. Như vậy, có căn cứ để x ác định cụ ông Nguyễn Thế N1 có vợ cả là cụ Nguyễn Thị X và vợ lẽ là cụ Nguyễn Thị C1; cụ N1 có 01 con chung với cụ X là bà Nguyễn Thị T, có 01 con chung với cụ C1 là bà Nguyễn Thị T1; các cụ không có con riêng hoặc con nuôi khác. Trong quá trình sinh sống cùng nhau trong một gia đình, cụ C1 và bà T có quan hệ chăm sóc nuôi dưỡng nhau như mẹ con, nên được hưởng di sản thừa kế của nhau theo quy định tại Điều 654 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó, có đủ cơ sở để xác định bà T, bà T1 là hai chị em ruột cùng cha khác mẹ và là đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của các cụ.
[2.3] Về di sản thừa kế: Theo tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được các bên thừa nhận thì khi còn sống, các cụ chung sống cùng nhau và là chủ sử dụng diện tích đất khoảng hơn 900 m2, trên đất có nhà ở tại thôn Ngọc Chử I, x ã Y, huyện L, thành phố Hải Phòng. Sau khi cụ X chết (năm 1965), cụ N1 và cụ C1 tiếp tục chung sống với nhau và cùng quản lý, sử dụng đất; cho đến sau khi cụ N1 chết (năm 1980) thì cụ C1 cùng các con vẫn sinh sống trên diện tích nhà đất nêu trên. Năm 1983, cụ C1 có chuyển nhượng khoảng hơn 592m2 đất cho ông Nguyễn Minh Tr, nhưng cả bà T và bà T1 đều không có ý kiến và không tranh chấp; diện tích đất còn lại hiện nay bà T1 đang quản lý, sử dụng, nhưng bà T đang có yêu cầu tranh chấp chia thừa kế. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xem xét đối với diện tích đất còn lại là 323 m2 tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 171A3; địa chỉ: Thôn B1, x ã Y, huyện L, thành phố Hải Phòng, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị T1 và ông Bùi Đức H là đúng trong phạm vi đơn khởi kiện theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Do các cụ chung sống với nhau từ trước năm 1959 và cụ N1 cũng đã chết trước năm 1987, nên quan hệ của các cụ được x ác định là vợ chồng. Do đó, theo quy định tại Điều 15 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 thì vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới, nên diện tích đất của các cụ để lại là tài sản chung của các cụ gồm cụ N1, cụ X và cụ C1. Như vậy, diện tích đất 323m2 tại thửa đất số 21, tờ bản đồ số 171A3; địa chỉ: Thôn B1, x ã Y, huyện L, thành phố Hải Phòng đã được 9 cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị T1 và ông Bùi Đức H là di sản của các cụ N1, cụ X và cụ C1 để lại. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định phần di sản của cụ N1 và cụ X đã hết thời hiệu chia thừa kế theo quy định như đã nhận định tại mục [2.1] và chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn đối với phần diện tích đất của cụ Nguyễn Thị C1 để lại là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2.4] Về chia thừa kế theo quy định của pháp luật: Quá trình giải quyết vụ án, bà Nguyễn Thị T1 cung cấp giấy quyền thừa kế viết tay ngày 20/10/2005 có chữ ký của cụ Nguyễn Thị C1, nhưng chữ viết trong giấy này là của bà T1, người làm chứng cũng do bà T1 ký; ông Hà Văn Nh ký ngày 20/10/2005 xác nhận “Tôi là Hà Văn Nh ở cùng x óm với cụ C1 có DT vườn là 318m2 như đơn cụ đã trình bày là đúng”; Ông Nguyễn Văn Đ ký xác nhận “Trong đơn cụ C1 viết DT = 318 m2 là đúng, nay nhượng cho con gái út là bà T1 sử dụng, con gái cả nhất trí rồi”; ông Nguyễn VT ký vào ngày 23/10/2005; Chủ tịch xã Phạm VĐ ký vào ngày 25/10/2005 xác nhận “Bà Nguyễn Thị C1 88 tuổi, Nơi ĐKNKT xã Y, H.L có con gái là Nguyễn Thị T1 là đúng”. Do đó, Giấy quyền thừa kế ngày 20/10/2005 do bà T1 cung cấp là không đúng quy định tại các Điều 652, Điều 653, Điều 655, Điều 656, Điều 657, Điều 659 Bộ luật Dân sự 1995. Đồng thời, như đã nhận định tại mục [2.3] thì thời điểm năm 2005, cụ N1, cụ X đã chết, nên cụ C1 không có quyền định đoạt toàn bộ phần tài sản chung của ba cụ (cụ X, cụ N1, cụ C1). Tòa án cấp sơ thẩm nhận định Giấy quyền thừa kế ngày 20/10/2005 do bà T1 cung cấp không phải là di chúc hợp pháp là có căn cứ. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thì thửa đất số 21, tờ bản đồ số 171-A-3 tại thôn B1, xã Y, huyện L, thành phố Hải Phòng hiện đang do bà Nguyễn Thị T1 quản lý, có diện tích theo hiện trạng là 333,5 m2 (toàn bộ diện tích đất ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất ở); giá trị đất theo sự thống nhất của các đương sự là 333,5m2 x 8000.000 đồng/m2 = 2.668.000.000 đồng. Tài sản trên đất gồm:

– Nhà số 1, gồm 02 tầng, tường xây gạch chỉ 220, mái bê tông cốt thép: KT = 10,2m x 5 = 51 m2, nền lát gạch, công trình phụ đầy đủ, do chị Bùi Thị H1 x ây dựng từ năm 2020 và đang ở, có giá trị 700.000.000 đồng.

– Nhà số 2 gồm 01 tầng, tường xây gạch chỉ 220, mái bê tông cốt thép, kích thước 5,2m x 8,2m = 42,64 m2 do ông Bùi Đức H và bà Nguyễn Thị T1 xây dựng từ năm 2007 (năm 2020, anh Bùi Đức C sơn sửa lại), có giá trị 180.000.000 đồng và toàn bộ công trình phụ láng xi măng (đã bao gồm cả sân bê tông) có giá trị 20.000.000 đồng. Tổng cộng là 200.000.000 đồng. Hiện nay con gái và con rể (Bùi Ngọc K và Khổng Anh Đ) anh Bùi Đức C đang ở.

– Nhà số 3, tường x ây gạch chỉ, mái ngói, KT 6m x 4,2m = 25,2 m2; công trình phụ, bếp tường x ây gạch chỉ 110, mái pro xi măng 2,3 x 2,2m, nền xi măng, nhà tắm, nhà vệ sinh tường xây gạch chỉ 110, mái bê tông cốt thép 2,6 m x 1,4 m 10 = 25,2 m2, do bà và ông H x ây dựng năm 1989, có tổng giá trị 20.000.000 đồng (khi còn sống cụ C1 ở, sinh hoạt tại căn nhà này, nay để thờ cúng). Mặc dù diện tích 333,5m2 đất theo hiện trạng là có sự chênh lệch so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà T1, ông H, nhưng các đương sự không có ý kiến gì về sự chênh lệch nêu trên, diện tích đất không có tranh chấp mốc giới với hộ liền kề và việc chênh lệch là do sai số trong khi đo đạc, nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản thừa kế của ba cụ theo hiện trạng sử dụng là 333,5m2, trong đó phần của mỗi cụ là 333,5m2: 3 = 111,16 m2 (làm tròn số 111 m2 ) là có căn cứ và phù hợp. Đồng thời nhận định: Sau khi cụ X và cụ N1 chết, cụ C1 vẫn ăn ở sinh hoạt trên diện tích đất còn lại; năm 2014, cụ C1 chết, bà T1 quản lý, sử dụng từ đó cho đến nay, nên phần di sản thừa kế của cụ N1, cụ X hiện đang do người thừa kế là bà T1 quản lý nên thuộc về bà T1 và do bà T1 được hưởng lợi từ việc hết thời hiệu chia di sản thừa kế đối với phần di sản của cụ X và cụ N1 nên không tính công sức quản lý, trông coi di sản thừa kế là đúng pháp luật và phù hợp với thực tế. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm x ác định bà T và bà T1 thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ C1, nên mỗi người được hưởng ½ di sản của cụ C1 và chấp nhận một phần yêu cầu chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị T; chia bằng hiện vật cho bà T được hưởng ½ di sản thừa kế của cụ C1 là 111 m2: 2 = 55,5 m2 đất (Có sơ đồ kèm theo) là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.
[2.5] Về yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Như đã nhận định tại mục [2.3] thì diện tích đất đang tranh chấp là di sản của các cụ N1, cụ X, cụ C1 để lại và như nhận định tại mục [2.4] thì Giấy quyền thừa kế ngày 20/10/2005 không phải là di chúc hợp pháp; cụ C1 không có quyền định đoạt toàn bộ phần tài sản chung của cả ba cụ và nội dung giấy quyền thừa kế nêu trên cũng không thể hiện sự nhất trí của bà Nguyễn Thị T. Do đó, việc UBND huyện L, thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị T1 và ông Bùi Đức H là không đúng quy định của pháp luật, nên Tòa án cấp sơ thẩm quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện L, Hải Phòng cấp cho bà Nguyễn Thị T1 ngày 30/11/2007 là có căn cứ.
[3] Từ những nhận định trên, xét thấy nội dung kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn và ý kiến trình bày của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn nêu tại phiên tòa phúc thẩm là không có cơ sở để chấp nhận. Do đó, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 293/2023/DS-PT NGÀY: 23/6/2023 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 293/2023/DS-PT NGÀY: 23/6/2023

…………….

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan