Feel free to go with the truth

Trang chủ / Tư vấn pháp luật / Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Đối với tội giao cấu với trẻ em

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Đối với tội giao cấu với trẻ em

Tình huống: Năm 2019, C (25 tuổi) có hành vi giao cấu với D (14 tuổi), sau đó D có thai. Gia đình D phát hiện nhưng không tố cáo và sau đó hai bên đã tổ chức đám cưới cho C và D nhưng chưa đăng ký kết hôn. Năm 2025, do mâu thuẫn cá nhân, gia đình D gửi đơn tố giác C đến cơ quan chức năng về hành vi giao cấu với trẻ em. Trường hợp này có còn trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Trả lời:

Cảm ơn Quý khách đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Công ty Luật FDVN (“FDVN”), FDVN có những thông tin trao đổi sau:

Trường hợp Quý khách hàng cần tư vấn chưa đầy đủ dữ liệu rằng việc C và D giao cấu có dựa trên sự tự nguyện của D hay không.

FDVN phân tích theo 02 hướng như sau:

  • Trường hợp C (25 tuổi) có hành vi giao cấu với D (14 tuổi) thì có dấu hiệu của hành vi Giao cấu với trẻ em từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi. Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về Tội giao cấu với trẻ em từ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi như sau: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 142 và Điều 144 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm…” Trong trường hợp người phạm tội làm nạn nhân có thai sẽ nằm trong khung hình phạt từ 03 đến 10 năm và khung hình phạt cao nhất của điều này là từ 07-15 năm. Đồng thời, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo quy định tại Điều 9 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định“Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội này là từ trên 07 năm đến 15 năm tù” do đó Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi thuộc tội phạm rất nghiêm trọng theo quy định của pháp luật.

Căn cứ quy định tại điểm c, Khoản 2 Điều 27 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì thời hạn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng là 15 năm.

Vậy đối chiếu với trường hợp mà Quý khách hàng cần tư vấn thì C và D đã giao cấu dựa trên sự tự nguyện vào năm 2019, đến năm 2025 tức 6 năm kể từ thời điểm xảy ra hành vi nếu có phát hiện ra hành vi vi phạm thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có cơ sở xác định cấu thành tội phạm.

  • Trường hợp xác định D (14 tuổi) bị C ép buộc giao cấu thì có dấu hiệu của Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.

Điều 142 Bộ luật hình sự quy định “1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ;

b) Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi.

Tùy tính chất, mức độ của hành vi thì người phạm tội này có thể phải chịu mức án cao nhất lên đến 20 năm, chung thân hoặc tử hình.

Theo Khoản 4, Điều 9 BLHS được sửa đổi bổ sung bởi Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017 quy định “Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm tù đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”.

 Vậy Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà theo quy định tại Điều 27 thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự của tội đặc biệt nghiêm trọng là 20 năm. Vậy thời gian được nêu từ thời điểm xảy ra hành vi phạm tội đến năm 2025 vẫn còn thời hiệu truy cứu, trường hợp có đủ cơ sở xác định hành vi này phạm tội thì vẫn chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này.

Trên đây là ý kiến tư vấn của FDVN liên quan đến yêu cầu tư vấn của Quý khách trên cơ sở nghiên cứu các quy định pháp luật. Hy vọng ý kiến tư vấn của FDVN sẽ hữu ích cho Quý khách.

Phạm Thảo – Công ty Luật hợp danh FDVN

……………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan