
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà; lời trình bày của các đương sự, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa; ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Về việc xác định mối quan hệ pháp luật và thẩm quyền loại việc: Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực kinh doanh, giữa nguyên bị đơn không có ký kết hợp đồng. Nên xác định tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Giữa nguyên đơn và bị đơn tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, có mục đích lợi nhuận. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm xác định là vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại theo khoản 5, Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự (tranh chấp khác về kinh doanh thương mại).
Về thẩm quyền lãnh thổ: Toà sơ thẩm xác định thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà kinh tế – Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 3 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là có căn cứ.
Nhận định trên đồng nghĩa với việc không chấp nhận kháng cáo của bị đơn về việc không đồng ý thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về nội dung:
[2.1] Theo “Đề án 24″ năm 2016 mà Bộ Giao thông vận tải (Viết tắt là Bộ GTVT) cho phép bị đơn thực hiện thử nghiệm “Kế hoạch thí điểm triển khai ứng dụng khoa học công nghệ hỗ trợ quản lý và kết nối hoạt động vận tải hành khách theo hợp đồng”. Tức là bị đơn chỉ được thực hiện việc cung cấp ứng dụng để kết nối các hợp tác xã vận tải với khách hàng. Theo đó, bị đơn ứng dụng sàn giao dịch thương mại điện tử có phạm vi hoạt động trên toàn quốc và được hoạt động hợp pháp theo quy định của Nghị định 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ về thương mại điện tử. Bị đơn cho rằng dịch vụ GTaxi không can thiệp vào giá cước, cũng như cách vận hành, quản lý xe và tài xế của các đơn vị Taxi. Giá cước GTaxi hiển thị trên ứng dụng G chỉ để khách hàng tham khảo, được ước tính dựa trên giá cước theo kilomet của các đơn vị Taxi và quãng đường dự kiến. Khách hàng sẽ trả đúng số tiền hiển thị trên đồng hồ tính cước của taxi sau khi kết thúc chuyến đi.
Điều này có nghĩa bị đơn chỉ phải tuân thủ các quy định về hoạt động kinh doanh thương mại và thương mại điện tử. Tuy nhiên, trên thực tế bị đơn đã thực hiện kinh doanh vận tải bằng xe taxi. Bởi lẽ, bị đơn đang trực tiếp thực hiện những hoạt động của một doanh nghiệp kinh doanh vận tải như: lưu trữ, quản lý thông tin hồ sơ của tài xế lái xe; tiếp nhận nhu cầu của khách hàng, thực hiện cung cấp thông tin hai chiều cho lái xe và khách hàng; điều động xe, quyết định hành trình của xe; quyết định giá cước khi kết thúc hành trình; trực tiếp nhận tiền từ khách hàng; triển khai các chương trình khuyến mãi, chăm sóc khách hàng và giải quyết các phản hồi từ khách hàng; thậm chí tài xế không làm vừa lòng khách hàng thì có thể bị công ty (bị đơn) khấu trừ vào phần thu nhập…Qua đó, chứng minh rằng bị đơn đã sử dụng phần mềm mà khiến cho các đối tác sửdụng phần mềm của mình phải phụ thuộc vào sự quản lý của mình. Cụ thể bị đơn đã tự ý quyết định giá cước của một cuốc xe và ăn chia lợi nhuận theo một tỉ lệ nhất định với tài xế; tiếp nhận phản hồi khách hàng để quyết định thưởng/phạt với các lái xe. Những cách thức trên đều thể hiện đó là hoạt động của một đơn vị kinh doanh vận tài, nhưng lại chịu sự quản lý theo khung pháp luật đối với hoạt động thương mại điện tử.
Như đã nhận định, cách thức kinh doanh của bị đơn không phải là cung cấp dịch vụ kết nối giữa hành khách và lái xe như “Đề án 24″, mà khẳng định đây là kinh doanh vận tải Taxi, mà đã kinh doanh vận tải Taxi thì phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật về kinh doanh vận tải Taxi, cụ thể là phải tuân thủ đúng quy định tại Nghị định 86/2014/NĐ-CP ngày 10/9/2014 của Chính phủ về kinh doanh và điều kiện kinh doanh vận tải bằng xe ô tô; Thông tư số 63/2014/TT-BGTVT ngày 7/11/2014 của Bộ GTVT quy định về tổ chức, quản lý hoạt động vận tải bằng ôtô và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ. Tuy nhiên thực tế bị đơn đã không thực hiện đúng các quy định nêu trên như:
Phải có giấy phép kinh doanh vận tải bằng ô tô do cơ quan có thẩm quyền cấp (Điều 7, Điều 20 Nghị định 86); Phải thực hiện các quy định của pháp luật về lao động; đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định pháp luật về lao động…
Xét thấy, trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, bị đơn đã mang đến một hình thức kinh tế mới – kinh tế chia sẻ, tận dụng xe nhàn rỗi, giúp người lao động có thêm thu nhập và người sử dụng dịch vụ có thêm sự lưạ chọn, lợi ích mà bị đơn từng mang lại cho người tiêu dùng và thị trường vận tải là không phủ nhận. Song hình thức này đã biến tướng, “núp bóng” mô hình kinh tế chia sẻ, điều này đã và đang gây ra nhiều hệ lụy cả về mặt kinh tế và xã hội nói chung và các doanh nghiệp Taxi truyền thống nói riêng. Bởi vì, bị đơn không phải chịu đóng thuế như các doanh nghiệp vận tải, không chịu điều kiện kinh doanh như taxi, không phải gắn “logo”, không bị kê khai giá, không phải đóng bảo hiểm cho người lao động… Nếu như bị đơn kinh doanh vận tải thực hiện đúng quy định theo Nghị định 86 và Thông tư 63, cũng như các quy định pháp luật khác về giá cước (Thông tư liên tịch số 152/2014/TTLT-BGTVT quy định rất cụ thể về sự ổn định và minh bạch đối với giá cước vận chuyển hành khách), về khuyến mãi (Nghị định 37/2006/NĐ-CP đã nghiêm cấm việc lợi dụng hình thức khuyến mãi để bán phá giá hàng hoá, dịch vụ) thì bị đơn sẽ phải chịu các chi phínhư các đơn vị kinh doanh vận tải và taxi truyền thống. Bị đơn sẽ phải đối mặt với những thách thức lớn, có tính bước ngoặt thay đổi cuộc chơi trên thương trường, khi đó bị đơn phải cạnh tranh công bằng với các đơn vị kinh doanh vận tải truyền thống mà không được hưởng các ưu đãi gì, giống nhau về mức thuế, sử dụng lao động, nhận diện, điều kiện kinh doanh, kê khai giá. Do đó, việc bị đơn đã vi phạm “Đề án 24” và Nghị định 86/NĐ-CP, Thông tư 63/TT-CP nhìn thấy thì chỉ vi phạm pháp luật, nhưng qua phân tích trên có cơ sở khẳng định hành vi vi phạm pháp luật của bị đơn có mối quan hệ nhân quả với thiệt hại của nguyên đơn.
Tuy nhiên, việc gây thiệt hại cho nguyên đơn như thế nào, thiệt hại tới đâu, cụ thể bao nhiêu thì trách nhiệm chứng minh thuộc về nguyên đơn.
[2.2] Nguyên đơn dựa vào kết quả thẩm định thì thiệt hại do bị đơn gây ra gồm hai phần:
đồng. + Thiệt hại phát sinh do xe nằm bãi không kinh doanh là 4.851.946.518
+ Thiệt hại do giảm giá trị vốn hoá thị trường của doanh nghiệp là 81.135.978.633 đồng.
Toà án cấp sơ thẩm cho rằng vấn đề thiệt hại do sụt giảm giá trị vốn hoá thị trường của nguyên đơn không thể tách bạch được phần thiệt hại nào do bị đơn gây ra, phần nào do các yếu tố khác gây ra, nên không chấp nhận yêu cầu bồi thường này của nguyên đơn là căn cứ. Tại phiên toà phúc thẩm hôm nay nguyên đơn kháng cáo cũng không xuất trình được các chứng cứ khác với các chứng cứ đã xuất trình để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của nguyên đơn.
Xét, toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá các chứng cứ vi phạm pháp luật của bị đơn như nhận định trên, mặc dù, việc xe nằm bãi còn có các nguyên nhân khác như kháng nghị của Viện kiểm sát đã nêu, nhưng xét nguyên nhân chính dẫn đến thiệt hại của nguyên đơn là do hành vi vi phạm pháp luật của bị đơn, nên chấp nhận số tiền thiệt hại mà nguyên đơn yêu cầu 4.851.946.518 đồng theo chứng thư thẩm định số CT101/18/GĐ ngày 20/8/2018 của Công ty giám định L là có tính tương đối hợp tình hợp lý. Bị đơn cho rằng phần thiệt hại này không thuộc yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì nguyên đơn chỉ yêu cầu bồi thường thiệt hại về lợi nhuận. Xét thấy, phần thiệt hại mà toà án cấp sơ thẩm đã buộc bị đơn bồi thường là một trong bộ phận không thể tách rời đến kết quả lợi nhuận của nguyên đơn. Nói cách khác lợi nhuận của nguyên đơn bao hàm cả việc có xe nằm bãi hay không. Nên không chấp nhận yêu cầu kháng cáo cũng như kháng nghị của VKSND Thành phố Hồ Chí Minh và kháng nghị bổ sung của VKSND cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề này.
[2.3] Xét kháng cáo của bị đơn không đồng ý các kiến nghị của Toà án cấp sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy, như đã nhận định trên, lợi ích mà bị đơn từng mang lại cho người tiêu dùng Việt Nam và thị trường vận tải là không thể phủ nhận. Song hình thức này ngày càng biến tướng và có thể gây ra những hệ lụy khó lường cho nền kinh tế và xã hội Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp kinh doanh taxi truyền thống nói riêng. Do vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần thiết phải tạo một khung khổ pháp lý văn minh, bình đẳng, minh bạch, đảm bảo yếu tố hội nhập. Nên việc toà án cấp sơ thẩm kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền là có căn cứ đúng quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật Tổ chức toà án nhân dân. Do đó, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo này của bị đơn.
[2.4] Các phần quyết định khác không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
[2.5] Do bản án phúc thẩm được giữ nguyên, nên các đương sự phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 05/2020/KDTM-PT NGÀY 10/3/2020 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 05/2020/KDTM-PT
…………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn