Feel free to go with the truth

Trang chủ / Hành chính / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy Quyết định thu hồi đất và Quyết định bồi thường, hỗ trợ ban hành kèm theo do vi phạm trình tự, thủ tục thu hồi đất

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hủy Quyết định thu hồi đất và Quyết định bồi thường, hỗ trợ ban hành kèm theo do vi phạm trình tự, thủ tục thu hồi đất

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của người bị kiện, quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Đại diện người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Hoàng A, bà Võ Thị Tuyết V và Công ty TNHH Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 225 Luật Tố tụng hành chính.

[2] Xét nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và kháng cáo của người bị kiện:

[2.1] Về tư cách khởi kiện của bà Đỗ Thị Minh T:

Nguồn gốc đất có diện tích 53.914m2 bị UBND huyện (nay là thành phố) Phú Quốc thu hồi theo Quyết định số 5117/QĐ-UBND ngày 27/10/2011 và Quyết định số 5118/QĐ-UBND ngày 27/10/2011 là của ông Đặng Hoàng A nhận chuyển nhượng của ông Lê Văn Ú1 có làm giấy tay đề ngày 21/10/1999, diện tích chuyển nhượng là 53.000m2 tại ấp Đ, xã D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, giá chuyển nhượng là 4.000.000đ, ông đã giao tiền và nhận đất từ năm 1999, ông A sử dụng đến ngày 25/8/2010 thì chuyển nhượng toàn bộ diện tích lại cho bà Đỗ Thị Minh T cùng thành quả trên đất cho bà T với số tiền 727.431.900đ tương đương 13.000đ/m2. Vợ chồng ông đã nhận tiền và giao đất từ ngày 25/8/2010. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà Đỗ Thị Minh T là người trực tiếp quản lý sử dụng đất diện tích bị thu hồi từ ngày 25/8/2010.

Hội đồng xét xử nhận thấy, theo Điều 115 Luật Tố tụng hành chínhquy định về quyền khởi kiện vụ án như sau: Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện vụ án đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong trường hợp không đồng ý với quyết định, hành vi đó hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định, hành vi đó. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xác định việc UBND huyện (nay là thành phố) P ban hành hai Quyết định thu hồi đất nói trên ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà T (do bà T là người trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất bị thu hồi) nên bà T có quyền khởi kiện vụ án hành chính theo Điều 115 Luật Tố tụng hành chính là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Về thời hiệu khởi kiện:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện: ngày 25/8/2010 ông Đặng Hoàng A đã chuyển nhượng diện tích đất trên cho bà T với giá tiền 727.431.900đ tương đương 13.000đ/m2. Vợ chồng ông A đã nhận tiền và giao đất từ ngày 25/8/2010. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà Đỗ Thị Minh T là người trực tiếp quản lý sử dụng đất diện tích bị thu hồi từ ngày 25/8/2010 (lời khai của ông Đặng Hoàng A ngày 26/02/2024, BL 103, 104).

Ông A khai là có cán bộ xuống giao các Quyết định số 5117, 5118/QĐ-UBND ngày 27/10/2011 và Quyết định số 5827/QĐ-UBND ngày 10/11/2011 của Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) P nhưng ông không nhận vì đất ông đã bán cho bà T, vợ chồng ông đã ủy quyền cho bà T, có chứng thực của UBND xã D về việc ủy quyền cho bà T nhận tiền bồi thường và khiếu nại, cho nên bà T có quyền quyết định. Như vậy, thời điểm triển khai quyết định thu hồi cho bà T thì UBND huyện đã biết việc bà T đang là người sử dụng diện tích đất này, không phải là ông Đặng Hoàng A; tuy nhiên, Ủy ban nhân dân P không kiểm tra các thủ tục thu hồi đất để xác định người đang sử dụng đất để ban hành quyết định đúng theo quy định. Như vậy, việc Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định thu hồi đất đối với ông Đặng Hoàng A vào ngày 27/10/2011 là không đúng đối tượng. Vì thời điểm ban hành Quyết định thu hồi đất bà Đỗ Thị Minh T là người trực tiếp quản lý sử dụng trước hơn một năm (sử dụng ngày 25/8/2010).

Tại Biên bản làm việc ngày 15/9/2020 của Thanh tra huyện (nay là thành phố) Phú Quốc (BL 54) ông Ú1 là đại diện ủy quyền của bà T khai “Năm 2011, UBND huyện ban hành các quyết định thu hồi đất đối với ông Đặng Hoàng A…gia đình chúng tôi chưa nhận tiền bồi thường nêu trên, chúng tôi không thống nhất việc bồi thường hỗ trợ nêu trên, nên đã làm đơn gửi đến UBND huyện để được xem xét, giải quyết”, Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Đỗ Văn Ú đã xuất trình biên nhận của Tổ Tiếp công dân ngày 23/11/2011 đã nhận đơn khiếu nại của bà Đỗ Thị Minh T, người nhận là ông Võ Minh K, nhưng UBND huyện (nay là thành phố) Phú Quốc không trả lời hoặc ban hành quyết định giải quyết khiếu nại cho bà T.

Tại Biên bản tổ chức triển khai các Quyết định số 5117/QĐ-UBND (BL 163) và Quyết định số 5118/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) P vào ngày 10/01/2012 (BL 167) giao cho bà Đỗ Thị Minh T (không có ông A) có thể hiện nội dung: Bà T không đồng ý mức giá bồi thường như trên, điện tích đất và thành quả trên đất chưa đúng với diện tích thực. Sau khi nhận được quyết định nói trên, bà T liên tục có đơn khiếu nại nhiều năm liền, đến ngày 31/8/2018, UBND huyện (nay là thành phố) Phú Quốc có Thông báo 1297/TB-UBND có nội dung không thụ lý giải quyết đơn khiếu nại của bà Đỗ Thị Minh T.

Trong khi trước đó, vào ngày 28/4/2017 tại Biên bản vận động thuyết phục ông Đông Hoàng A1 nhận tiền bồi thường hỗ trợ (BL 130-131), ông A1 đã trình bày rõ “Thửa đất diện tích 53.000m2 tôi đã ủy quyền cho bà Đỗ Thị Minh T toàn quyền quyết định bao gồm nhận được tiền bồi thường và các khoản hỗ trợ, tham gia khiếu nại hoặc tranh chấp tại các cơ quan có thẩm quyền. Tôi không có nghĩa vụ với hai thửa đất nói trên”.

Sau khi nhận được Thông báo 1297/TB-UBND ngày 31/8/2018, bà T liên tục có đơn khiếu nại gửi đến UBND tỉnh K, UBND thành phố P và các ban ngành khác cho đến ngày khởi kiện nhưng không được Chủ tịch UBND thành phố P ban hành các quyết định giải quyết khiếu nại, cho nên Hội đồng xét xử xét thấy thời hiệu khởi kiện vụ án vẫn còn theo quy định tại Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015. Mặt khác, diện tích đất Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Phú Quốc thu hồi của ông Đặng Hoàng A, chuyển nhượng cho bà T tại ấp Đ, xã D, thành phố P vào ngày 27/10/2011 nhưng hiện nay UBND thành phố P chưa cưỡng chế thu hồi đất, phía bà Đỗ Thị Minh T vẫn là người trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất bị thu hồi. Như vậy, quy trình thu hồi đất chưa hoàn thành nên thời hiệu khởi kiện vẫn còn theo Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[3] Xét tính hợp pháp của Quyết định số 5117/QĐ-UBND và Quyết định số 5118/QĐ-UBND ngày 27/10/2011 của Ủy ban nhân dân thành phố P.

[3.1] Về trình tự, thủ tục thu hồi đất:

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa phía người bị kiện và người bảo vệ cho người bị kiện không cung cấp được chứng cứ thông báo cho ông Đặng Hoàng A có mặt vào ngày 24/01/2007 để Đoàn kiểm kê, đất đai, vật kiến trúc đối với phần đất ông Hoàng A bị thu hồi. Ngoài ra, theo Biên bản thể hiện thành phần chỉ có cán bộ Trung tâm kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh K kết hợp cùng Ban lãnh đạo ấp Đ, xã D mà không có chính quyền địa phương xã D Như vậy, Biên bản kiểm kê đất đai, cây trồng, vật kiến trúc ngày 24/01/2007 nói trên là chưa phù hợp pháp luật.

Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) P (nay là thành phố P) thu hồi đất của ông Hoàng A để phát triển kinh tế theo quy định Điều 40 Luật đất đai năm 2003, nên về trình tự thủ tục thu hồi đất phải đảm bảo theo Điều 39 Luật đất đai năm 2003: Trước khi thu hồi đất, chậm nhất là chín mươi ngày đối với đất nông nghiệp và một trăm tám mươi ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải thông báo cho người bị thu hồi đất biết lý do thu hồi, thời gian và kế hoạch di chuyển, phương án tổng thể về bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư. Quá trình giải quyết vụ án, UBND thành phố P không chứng minh đã giao các thủ tục như thông báo thu hồi đất, quyết định thu hồi đất cho ông Đặng Hoàng A biết.

Theo hai Quyết định thu hồi của UBND thành phố P vào năm 2011 đối với ông Đặng Hoàng A tại mục căn cứ không có căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hàng năm của UBND thành phố P. Điều này, không đúng theo quy định của pháp luật về việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất theo quy định Điều 29 Luật đất đai năm 2003 và được hướng dẫn theo quy định Điều 28, Điều 29 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ thi hành Luật đất đai. Việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối diện tích thu hồi: Diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án, công trình hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau ba năm không được thực hiện theo kế hoạch thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh hoặc hủy bỏ và công bố theo quy định Điều 29 Nghị định 181/2004. Như vậy, thời hạn thực hiện dự án đã hoàn thành từ quý I năm 2022 nhưng đến nay dự án chưa triển khai thực hiện, bà T vẫn đang quản lý sử dụng đất.

[3.2] Đối tượng bị thu hồi đất:

Vào ngày 24/01/2007, Trung tâm K kiểm kê diện tích đất của ông Hoàng A mà không thông báo cho ông Hoàng A biết, ông Hoàng A không có mặt tại thời điểm kiểm kê, thời điểm đó ông Đặng Hoàng A là người đang sử dụng diện tích đất, đến ngày 27/10/2011 (gần 05 năm) UBND huyện (nay là thành phố) Phú Quốc ban hành Quyết định thu hồi đất đối với ông Đặng Hoàng A. Tuy nhiên, năm 2010 ông Hoàng A đã chuyển nhượng diện tích đất trên cho bà T và bà T là người trực tiếp quản lý sử dụng đối với diện tích đất bị thu hồi (lời khai của ông Đặng Hoàng A ngày 26/02/2024, BL 103, 104) và tại Biên bản vận động thuyết phục ông Đông Hoàng A1 nhận tiền bồi thường hỗ trợ (BL 130-131).

Sau khi có Quyết định thu hồi đất năm 2011 của UBND huyện (nay là thành phố) Phú Quốc ban hành Quyết định thu hồi đất và ngày 10/01/2012 đã triển khai giao cho bà T. Như vậy, tại thời điểm triển khai 02 quyết định thu hồi đất, ông Hoàng A1 không có nhận quyết định vì cho rằng diện tích đất này đã bán cho bà T (điều này được ông Hoàng A1 thừa nhận tại biên bản ghi lời khai ông Hoàng A1 ngày 26/02/2024); như vậy, thời điểm triển khai quyết định thu hồi cho bà T thì UBND huyện đã biết việc bà T đang là người sử dụng diện tích đất này, không phải là ông Đặng Hoàng A; tuy nhiên, Ủy ban nhân dân thành phố P không kiểm tra là thủ tục thu hồi đất để xác định người đang sử dụng đất để ban hành quyết định đúng theo quy định.

Như vậy, việc Ủy ban nhân dân thành phố P ban hành Quyết định thu hồi đất đối với ông Đặng Hoàng A vào ngày 27/10/2011 là không đúng đối tượng. Vì thời điểm ban hành Quyết định thu hồi đất bà Đỗ Thị Minh T là người trực tiếp quản lý sử dụng trước hơn một năm (sử dụng ngày 25/8/2010).

[4] Như đã phân tích trên, do trình tự, thủ tục thu hồi đất vi phạm theo quy định như vừa phân tích trên như: không thông báo thu hồi đất theo quy định Điều 39 Luật đất đai năm 2003, thu hồi đất không đúng đối tượng, không công khai phương án bồi thường, tái định cư; thu hồi đất không căn cứ vào kế hoạch sử dụng hằng năm của UBND huyện (nay là thành phố) Phú Quốc; thu hồi đất không đúng đối tượng nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T là có căn cứ.

Ngoài ra, sau khi Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Phú Quốc ban hành Quyết định thu hồi đất số 5118/QĐ-UBND ngày 27/10/2011 đối với ông Đặng Hoàng A nhưng đến nay vẫn chưa ban hành quyết định bồi thường, hỗ trợ gì cho ông Hoàng A đối với diện tích thu hồi theo quyết định nói trên.

[5] Xét tính hợp hợp pháp Quyết định số 5827/QĐ-UBND về bồi thường, hỗ trợ:

Xét thấy, tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích của UBND thành phố P xác định rằng Quyết định số 5827/QĐ-UBND bồi thường, hỗ trợ cho diện tích đất theo Quyết định số 5117/QĐ-UBND diện tích 8.226,7m2. Hiện nay, ông Hoàng A và bà T chưa nhận tiền hỗ trợ theo Quyết định số 5827/QĐ-UBND. Còn diện tích 45.187,3m2 không được bồi thường, hỗ trợ. Như nhận định trên, các Quyết định thu hồi đất thực hiện không đúng trình tự thủ tục, không có căn cứ pháp luật nên bị hủy bỏ; Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm hủy bỏ Quyết định bồi thường, hỗ trợ ban hành kèm theo là có cơ sở, đúng pháp luật.

Với các nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện về việc bà T không có quyền khởi kiện theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 3; Điểm a, khoản 1 Điều 123 Luật Tố tụng hành chính, Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý và giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà T đúng quy định pháp luật. Như vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người bị kiện, nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc hủy bản án sơ thẩm, đình chỉ vụ án vì thời hiệu khởi kiện đã hết với các lập luận nêu trên. Cần thiết phải giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[7] Án phí hành chính phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo qui định pháp luật.

[NGUỒN: Bản án số 687/2025/HC-PT NGÀY 04/6/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LINK PDF: Bản số 687/2025/HC-PT

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan