Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Huỷ bản án sơ thẩm do chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục để đảm bảo giải quyết vụ án mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Huỷ bản án sơ thẩm do chưa thực hiện đầy đủ các thủ tục để đảm bảo giải quyết vụ án mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Tại phiên tòa phúc thẩm, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ gia đình:

Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

Cụ Nguyễn Văn L3 và cụ Phan Thị C1 có 5 người con là ông Nguyễn Văn H5 (chết năm 2010), ông Phan Văn P4, bà Nguyễn Thị G1, ông Nguyễn Văn C, ông Nguyễn Văn N5.

Cụ Thạch Thị L4 và cụ Châu Hồng R sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1954. Hai cụ có 04 người con chung là ông Châu Hồng H, bà Châu Thị H1, bà Châu Thị N, ông Châu Hồng M. Năm 1968, cụ L4 và cụ R không sống chung với nhau nữa, cụ R đã có gia đình riêng.

Sau khi cụ Phan Thị C1 chết, cụ L4 về sống chung với cụ Nguyễn Văn L3 từ năm 1978 đến năm 2005. Theo quy định tại điểm a Điều 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì quan hệ giữa cụ L4 và cụ L3 được xác định là hôn nhân thực tế. Cụ L3 chết ngày 23/5/2005. Cụ L4 chết ngày 23/9/2005.

[2.2] Về nguồn gốc, quá trình sử dụng, kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất tranh chấp:

Phần đất tranh chấp có tổng diện tích 1.098,5 m², gồm thửa 404 (diện tích 66,3 m²), một phần thửa 403 (diện tích 639,3 m²), thửa 405 (diện tích 313,4 m²) và 444 (diện tích 79,5 m²), thuộc tờ bản đồ số 12 Bộ địa chính xã L, huyện T (theo tài liệu năm 1991), nay là một phần các thửa 89 (diện tích 1.138,6 m²), 91 (diện tích 03,6 m²), tờ bản đồ số 32, Bộ địa chính phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Phần đất tranh chấp nêu trên do hộ gia đình cụ Thạch Thị L4 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/12/1998. Thời điểm cấp Giấy chứng nhận, hộ gia đình cụ L4 gồm có cụ L4 và các con là ông Châu Hồng H, bà Châu Thị H1, bà Châu Thị N, ông Châu Hồng M. Năm 2013, ông H, bà H1, bà N, ông M đã thỏa thuận chuyển nhượng 324 m² đất thuộc một phần thửa đất 405 cho ông Dương Lê P3. Ông P3 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 24/01/2014.

Quá trình giải quyết vụ án, các bên đương sự đều trình bày thống nhất về việc phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của cụ Nguyễn Văn L3 khai phá và sử dụng từ trước năm 1975. Nhưng các bên trình bày không thống nhất về quá trình sử dụng đất và phần đất tranh chấp có đưa vào Tập đoàn sản xuất hay không, cụ thể:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn C (con cụ L3, cụ C1) cho rằng khi còn sống, cụ L3 đã cho ông C diện tích đất nêu trên, do phần đất tranh chấp là đất gò cao nên không đưa vào Tập đoàn sản xuất, ông đã sử dụng phần đất tranh chấp từ năm 1975 đến năm 2006 thì không sử dụng do phát sinh tranh chấp với hộ cụ L4. Những người con khác của cụ L3 thống nhất với trình bày của ông C, xác nhận phần đất tranh chấp cụ L3 đã cho ông C, ông C đã sử dụng từ năm 1975 cho đến nay.

Bị đơn ông Châu Hồng H, bà Châu Thị H1, bà Châu Thị N, ông Châu Hồng M cho rằng vào năm 1978 – 1979, diện tích đất nêu trên đã đưa vào Tập đoàn S4 (sau đổi tên thành Tập đoàn S4), sau đó cấp lại cho cụ L4 canh tác. Gia đình cụ L4 đã sử dụng đất ổn định, đến năm 1994 thì kê khai theo Chỉ thị 02/CT-UB, đến năm 1998 được cấp Giấy chứng nhận với tổng diện tích 2.188 m², trong đó có cả phần đất tranh chấp. Tuy nhiên, cả nguyên đơn và bị đơn đều không cung cấp được chứng cứ để chứng minh quá trình sử dụng đất và phần đất tranh chấp có vào tập đoàn hay không.

Vấn đề nêu trên, Tòa án đã xác minh được như sau:

Ông Bùi Văn C2 – nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L, là người chịu trách nhiệm quản lý tập đoàn sản xuất ở địa phương từ năm 1975 – 1988; ông Đặng Văn T5 – Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1998 xác nhận: đất tranh chấp cụ L3 đã đưa vào tập đoàn sản xuất, sau đó tập đoàn sản xuất nông nghiệp cấp đất cho cụ L4 (BL: 178, 235, 523).

Ông Võ Văn L1 – nguyên Tập đoàn trưởng Tập đoàn S4, ông Nguyễn Văn N6 – Tập đoàn S4, bà Lê Thị Cẩm H3 – nguyên thư ký Ban quản lý Tập đoàn xác nhận: Diện tích đất tranh chấp không được đưa vào tập đoàn quản lý, tập đoàn không cấp phần đất nào cho cụ L4, cụ L4 không phải là tập đoàn viên của Tập đoàn S4 mà là thành viên của Tập đoàn F, ấp P (BL: 92, 209, 230).

Tại Công văn số 81/UB ngày 18/8/2011 của Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) có nội dung: phần đất tranh chấp không thuộc diện đưa vào tập đoàn (BL: 231). Tại Công văn số 1709/UBND-TNMT ngày 17/10/2012 của Ủy ban nhân dân Quận I (nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh) có nội dung: Phần đất tranh chấp không xác định được có đưa vào tập đoàn hay không, Ủy ban nhân dân Quận I không có hồ sơ lưu liên quan đến tập đoàn.

Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã ban hành Công văn số 3778/TATP-THC ngày 19/6/2020, Công văn số 6546/TATP-THC ngày 30/6/2020, Công văn số 236/TATP-THC ngày 14/01/2021, Công văn số 4176/TATP-THC ngày 11/10/2021, đề nghị Ủy ban nhân dân phường L triệu tập cuộc họp tổ dân phố lấy ý kiến các hộ dân sống lâu năm biết quá trình sử dụng đất nhưng Ủy ban nhân dân phường L không trả lời.

Như vậy, mặc dù qua hai lần cấp giám đốc thẩm hủy án để làm rõ vấn đề đất tranh chấp có đưa vào tập đoàn hay không, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác minh, thu thập chứng cứ nhưng không làm rõ được vấn đề này, các đương sự cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh cho yêu cầu của mình.

Do đó, tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án không đủ cơ sở để xác định phần đất tranh chấp đã đưa vào tập đoàn và tập đoàn cấp cho hộ gia đình cụ L4. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi trong quá trình thu thập chứng cứ.

Mặc dù hộ cụ L4 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng nguồn gốc đất là của cụ L3 khai phá, sử dụng. Hộ cụ L4 không có chứng cứ chứng minh cụ L3 đã chuyển nhượng hay tặng cho phần đất tranh chấp cho mình. Trong khi đó, thực tế hộ gia đình cụ L4 cũng không canh tác, sử dụng phần đất này. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định cho rằng phần đất tranh chấp do cụ L4 và những người con cụ L4 sử dụng, kê khai, đăng ký, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, để không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C là không có căn cứ.

[2.3] Theo quy định tại điểm a Điều 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì quan hệ giữa cụ L3 và cụ L4 là hôn nhân thực tế.

Phần đất tranh chấp có nguồn gốc của cụ L3 khai phá. Năm 1984, cụ L3 kê khai, đăng ký phần đất tranh chấp theo Chỉ thị 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ; năm 1994, cụ L4 kê khai, đăng ký theo Chỉ thị 02/CT-UB ngày 18/01/1992 của Ủy ban nhân dân Thành phố H. Thời điểm cụ L3, cụ L4 kê khai đất là trong thời kỳ hôn nhân giữa cụ L3 và cụ L4.

Căn cứ Điều 15 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: “Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới”. Vì vậy, có cơ sở xác định phần đất nêu trên là tài sản chung của cụ L3 và cụ L4, không phải là tài sản chung của hộ gia đình cụ L4 như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định.

Ngày 06/8/1999, cụ L3 lập giấy ủy quyền cho ông C (thực chất là tặng cho ông C) một phần đất có diện tích “một công mốt” nhưng không ghi rõ số thửa, vị trí, địa chỉ thửa đất (BL: 69). Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, các anh, chị, em ruột của ông C đều xác định cụ L3 đã cho ông C phần đất tranh chấp, ông C đã nhận đất sử dụng từ năm 1975 cho đến nay.

Tại Biên bản làm việc ngày 02/01/2003, Biên bản làm việc ngày 26/02/2002 của Ủy ban nhân dân phường L hòa giải tranh chấp giữa ông C và cụ L4, cụ L4 có ý kiến đồng ý chuyển trả quyền sử dụng đất cho ông C (BL: 151, 152).

Như vậy, phần đất tranh chấp là tài sản chung của cụ L3 và cụ L4, việc cụ L3 tặng cho ông C toàn bộ phần đất này mà không được sự đồng ý của cụ L4 là không đúng. Nhưng, có cơ sở xác định cụ L3 đã tặng cho ông C phần quyền sử dụng đất của cụ L3 trong khối tài sản chung với cụ L4 (trong tổng diện tích đất tranh chấp). Hiện nay, cụ L3 đã chết, yêu cầu khởi kiện của ông C về việc buộc các bị đơn trả đất là có cơ sở để chấp nhận một phần.

Do phần đất tranh chấp hiện nay là đất nông nghiệp (trừ phần đã chuyển nhượng cho ông Dương Lê P3), Tòa án cấp sơ thẩm cần phải xác minh, làm rõ phần đất tranh chấp có đủ điều kiện tách thửa để trả lại cho ông C hay không; trường hợp đủ điều kiện tách thửa thì cần đo vẽ lại diện tích đất để phân chia bằng hiện vật; trường hợp phần đất tranh chấp không đủ điều kiện để tách thửa thì cần phải định giá lại quyền sử dụng đất để phân chia bằng giá trị.

Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Châu Thị H1, bà Châu Thị N, ông Châu Hồng H, ông Châu Hồng M với ông Dương Lê P3 vào ngày 14, 15/10/2013 đối với phần đất nông nghiệp có diện tích 324 m² (thuộc một phần diện tích đất tranh chấp) đã được thực hiện xong. Ông P3 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 02/12/2013. Ngày 24/01/2014, ông P3 đăng ký chuyển mục đích sử dụng từ đất nông nghiệp sang đất ở tại đô thị có diện tích 304 m², còn lại 20 m² là đất nông nghiệp.

Xét thấy, các bên thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau khi đã có Quyết định kháng nghị số 468/2013/KNDS của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 1451/2012/DS-PT ngày 06/12/2012 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án dân sự sơ thẩm số 229/2011/DS-ST ngày 30/12/2011 của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh, là trái pháp luật.

Tuy nhiên, như phân tích nêu trên, phần đất tranh chấp được xác định là tài sản chung của cụ L3 và cụ L4. Hiện nay, cụ L4 đã chết. Tòa án cấp sơ thẩm cần phải làm rõ phần đất các con của cụ L4 chuyển nhượng cho ông P3 có vượt quá phần mà cụ L4 được hưởng trong khối tài sản chung với cụ L3 hay không; khi đo vẽ lại diện tích đất tranh chấp thì phần đất tranh chấp có nằm trong phần đất cụ L4 được phân chia hay không; nếu công nhận hợp đồng chuyển nhượng đất nêu trên thì có làm ảnh hưởng đến việc phân chia đất giữa ông C và các con của cụ L4 hay không; để từ đó mới có cơ sở chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 02/12/2013 giữa các bị đơn và ông P3.

Ngoài ra, cũng cần phải làm rõ hàng thừa kế của cụ L4, cụ L3 gồm những ai, để khi phân chia đất là tài sản chung của cụ L4 và cụ L3 thì phải đưa đầy đủ những người thừa kế của họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Các vấn đề nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thực hiện đầy đủ mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Văn C, hủy bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung. Việc bản án sơ thẩm bị hủy, Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 107/2025/DS-PT NGÀY: 25 – 2- 2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CАО TẠI THÀNH PHÓ HỎ CHÍ MINH]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 107/2025/DS-PT NGÀY: 25 – 2- 2025

…………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan