
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Xuân T1 làm trong thời hạn quy định pháp luật nên hợp lệ.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 tiến hành xét xử vụ án.
[3] Phần đất tranh chấp có diện tích 1.431,4m2 thuộc thửa đất số 9, tờ bản đồ số 40 tọa lạc tại phường L, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh, đã được Ủy ban nhân dân Quận I cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CH11826 ngày 28/11/2017 cho hộ ông Nguyễn Xuân T1.
Theo nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc M, ông Mai Thanh B thì phần đất trên chính là phần đất có diện tích 1.700m2 chưa có số thửa, thuộc tờ bản đồ số 8, tọa lạc tại phường L, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh mà nguyên đơn đã nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Võ Văn B2, bà Lê Thị Kim A vào ngày 26/9/2001.
Bị đơn ông Nguyễn Xuân T1 cho rằng phần đất trên do ông T1 nhận chuyển nhượng từ ông Võ Văn B2, bà Lê Thị Kim A vào tháng 7/2001.
Quá trình giải quyết vụ án, ông B2 đã chết. Bà Kim A trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 17/6/2020 xác nhận có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông B, bà M và ông T1, nhưng do việc chuyển nhượng đã lâu và già yếu nên bà không nhớ cụ thể.
[4] Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[4.1] Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Danh Xà R, ông Đào H3, bà Thi H7, bà Đào Thị H5 vừa là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vừa là người làm chứng trong cùng vụ án là không phù hợp quy định tại khoản 4 Điều 68, Điều 77 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4.2] Căn cứ vào lời trình bày của đương sự thì nguyên đơn, bị đơn đều nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ vợ chồng ông Võ Văn B2, bà Lê Thị Kim A. Tuy nhiên, phần đất mà nguyên đơn nhận chuyển nhượng ngày 26/9/2001 có diện tích 1.700m2, không có số thửa, tờ bản đồ số 8; còn phần đất mà bị đơn nhận chuyển nhượng vào tháng 7/2001 và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 1.431,4m2 thuộc thửa đất số 9, tờ bản đồ số 40.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập tài liệu tại cơ quan quản lý đất đai để làm rõ phần diện tích đất nguyên đơn nêu và phần đất bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cùng 01 phần đất hay 02 phần đất là chưa đủ cơ sở giải quyết vụ án, bởi: diện tích, vị trí đất mà nguyên đơn nêu không trùng khớp với diện tích, vị trí đất tranh chấp; hơn nữa, căn cứ vào thời gian nhận chuyển nhượng từ ông B2, bà Kim A thì nguyên đơn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau bị đơn.
[4.3] Về quá trình sử dụng đất:
Nguyên đơn bà M, ông B cho rằng đã canh tác, sử dụng đất liên tục ổn định từ năm 2002 đến nay được chứng minh bởi những người làm chứng là những người hàng xóm sinh sống liền kề gồm ông Lê Văn T6 (nguyên công an phường T, quận T), ông Nguyễn Văn N2 (nguyên Trưởng ấp T từ năm 2000 đến năm 2010), ông Đào H3 (hộ gia đình đang sinh sống trên phần đất).
Bị đơn ông T1 trình bày sau khi nhận chuyển nhượng ông đã nhờ ông Nguyễn Văn M1 quản lý, trông coi phần đất. Lời trình bày của bị đơn phù hợp với lời trình bày của người làm chứng ông Nguyễn Văn M1 trong hồ sơ vụ án.
Xét, chứng cứ mà các bên đương sự nêu ra để chứng minh quá trình quản lý, sử dụng đất là lời trình bày của người làm chứng do các bên cung cấp. Ngoài lời trình bày người làm chứng thì không có tài liệu, chứng cứ khác để chứng minh. Trong khi đó, theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 03-388MP2002 do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đ1 lập năm 2002 và Bản đồ hiện trạng vị trí số 459-Q9/ĐDN/2005 do Công ty cổ phần Đ2 lập năm 2005, đều thể hiện vào năm 2002 và 2005 phần đất biền lá diện tích 1431,4m2 là đất trống. Ngày 13/4/2021, Ủy ban nhân dân thành phố T đã lập Biên bản vi phạm hành chính về hoạt động đầu tư xây dựng số 03/BB-VPHC đối với ông Mai Thanh B vì đã tổ chức thi công công trình không được phê duyệt đối với trường hợp được miễn giấy phép xây dựng được xây dựng năm 2009. Căn cứ vào biên bản vi phạm hành chính trên, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T đã ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả số 1238/QĐ-XPVPHC ngày 22/4/2021 và Quyết định Cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả số 4382/QĐ-CCKPHQ ngày 20/7/2021 đối với ông B (các quyết định hành chính trên đang có hiệu lực pháp luật).
[4.4] Theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/9/2001 (BL 487) giữa ông B2 và bà M1 (hợp đồng không được công chứng, chứng thực) thể hiện thửa 762 diện tích 1.826m2, có ghi chú “Biền lá 1.700m2”; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/9/2001 (BL 632) thể hiện số thửa A-762 có ghi chú “tách thửa”; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số V161864 cấp ngày 26/10/2004 cho bà M1 (BL 246) thể hiện số thửa 1582, ghi diện tích 1.862m2 đất lúa. Do đó, cần phải làm rõ phần diện tích đất “Biền lá” là phần đất khác hay thuộc phần diện tích 1.826m2 thửa 762 và có được xem xét ghi nhận trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà M1 không?
Ngoài ra, ông T1 trình bày năm 2014 khi phát hiện ông Đào Hoàng Ở trên đất, ông đã báo công an phường, Ủy ban nhân dân phường L và Ủy ban nhân dân Quận I, thì ông B đã đến xin ông và cam kết với công an phường L cho phép gia đình ông H3 được tạm trú nên ông T1 đã đồng ý bãi nại. Tòa án cấp sơ thẩm không thu thập tài liệu, chứng cứ, không xác minh tại công an phường L để làm rõ các nội dung trên đã nhận định nguyên đơn quản lý, sử dụng ổn định phần đất từ năm 2001 và bị đơn không có tranh chấp là chưa đủ căn cứ để giải quyết vụ án.
[4.5] Bản án sơ thẩm nhận định: “Tại phần ghi chú trong giấy chứng nhận này có nội dung:
“Trọn thửa 09, tờ bản đồ 40 (tài liệu năm 2003);
Khu đất thuộc quy hoạch Quỹ đất xây dựng đường Vành đai 2, theo Văn bản số 6812/UBND-ĐTMT ngày 20/12/2014 của UBND Thành phố”.
Như vậy, cho thấy 02 chủ thể cùng xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với cùng một thửa đất thuộc quy hoạch Quỹ đất xây dựng đường Vành đai 2. Tại thời điểm này Văn Phòng Đ3 Chi nhánh Q đã biết cùng một thửa đất có 02 người yêu cầu xin cấp giấy chứng nhận nhưng không thông báo và không giải thích cho họ biết mà Ủy ban nhân dân Quận I lại trả hồ sơ của ông B đồng thời lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T1 là trái pháp luật”.
Theo nội dung nhận định trên, Bản án sơ thẩm vừa quyết định hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số CH11826 do Ủy ban nhân dân Quận I cấp ngày 28/11/2017 cho hộ ông T1, nhưng vừa quyết định cho bà M1, ông B được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần diện tích trên theo quy định của pháp luật. Vậy, nội dung quyết định của Bản án sơ thẩm đã có mâu thuẫn với nhận định và không đảm bảo cho việc thi hành án vì phần diện tích đất nêu trên là đất biền lá, nằm trong quy hoạch quỹ đất xây dựng đường Vành đai 2.
[5] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Bản án sơ thẩm chưa đánh giá đầy đủ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án và phán quyết gây ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của đương sự. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa; Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của bị đơn; Hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo quy định pháp luật.
[6] Bản án sơ thẩm bị hủy do việc thu thập tài liệu, chứng cứ chưa đầy đủ để giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử không xem xét đến nội dung vụ án.
[7] Án phí dân sự phúc thẩm: Do hủy bản án sơ thẩm, nên người có kháng cáo không phải chịu.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 317/2025/DS-PT ngày 17/4/2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 317/2025/DS-PT ngày 17/4/2025
…………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn