Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY]- Bản án Tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn và yêu cầu tuyên bố hợp đồng công chứng vô hiệu

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY]- Bản án Tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn và yêu cầu tuyên bố hợp đồng công chứng vô hiệu

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án xác định: Anh Cao Văn T, chị Nguyễn Thị Tâm Đ tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn và yêu cầu tuyên bố hợp đồng công chứng vô hiệu. Anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tâm Đ đều đang sinh sống, làm việc tại thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La thụ lý sơ thẩm để giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng thẩm quyền được quy định tại khoản 11 Điều 26, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn anh Cao Văn T yêu cầu trả lại tài sản là nhà ở gắn liền với đất đối với thửa đất số 204a, tờ bản đồ số 21-18, địa chỉ bản BẨ, phường CC, thành phố Sơn La, diện tích 67m2 mà anh T, chị Đ đã thỏa thuận tặng cho ba con chung theo hợp đồng Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất được công chứng tại Văn phòng công chứng QK ngày 28/10/2019. Tài sản trên là tài sản chung của anh T chị Đ phát sinh trong thời kỳ hôn nhân; đồng thời, nguyên đơn yêu cầu xác định biên bản thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn ngày 10/6/2020 tại Văn phòng công chứng Hà Lanh B là vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn và yêu cầu tuyên bố hợp đồng công chứng vô hiệu là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Ngày 09/7/2021, Văn phòng công chứng Hà Lanh B có văn bản yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Sơn La tuyên bố văn bản công chứng số công chứng 794, vào sổ công chứng quyển số 01/TP/SCC/HĐGD ngày 10/06/2020 là vô hiệu. Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định yêu cầu của Văn phòng công chứng Hà Lanh B tại nội dung Bản án sơ thẩm nhưng không thụ lý đối với yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu nêu trên là có thiếu sót, mặc dù không ảnh hưởng đến bản chất vụ án, nhưng cần rút kinh nghiệm.

[1.3] Về thời hạn kháng cáo: Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 15/2024/HNGĐ-ST ngày 29/2/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã tuyên quyền kháng cáo, kháng nghị theo quy định. Ngày 14/3/2024, anh Cao Văn T có đơn kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm. Ngày 12/3/2024, chị Nguyễn Thị Tâm Đ là bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm. Kháng cáo của anh Cao Văn T, chị Nguyễn Thị Tâm Đ đều trong thời hạn luật định, thực hiện đúng quy định tại Điều 271, Điều 272, khoản 1 Điều 273, Điều 276, Điều 277 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, do đó kháng cáo được chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung kháng cáo:

[2.1] Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn anh Cao Văn T xin rút toàn bộ nội dung kháng cáo theo đơn kháng cáo đề ngày 14/3/2024. Hội đồng xét xử xét thấy việc rút kháng cáo của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định cần chấp nhận và quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của nguyên đơn anh Cao Văn T, vận dụng điểm b khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2.2] Đối với yêu cầu công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 28/10/2019 tại Văn phòng công chứng Q K có hiệu lực pháp luật. Trong thời kỳ hôn nhân, anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tâm Đ có 03 con chung, gồm: Cao Tuấn C, sinh ngày 25/9/2006, Cao Ngọc H, sinh ngày 22/11/2009, Cao Tuấn D, sinh ngày 21/3/2012. Ngày 28/10/2019 anh T, chị Đ đã tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ bà Nguyễn Thị Tâm Đ và ông Cao Văn T cho 03 người con chung trên. Do bên được tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất chưa đủ tuổi ký kết giao dịch chuyển nhượng bất động sản nên ông Nguyễn Thanh Đ (Nguyễn Văn Đ) là bố đẻ của chị Đ và là ông ngoại của người được tặng cho đại diện người được tặng cho đứng tên trên hợp đồng với tư cách là người giám hộ. Hợp đồng tặng cho được công chứng tại Văn phòng Công chứng QK, theo đó các bên đã ký và điểm chỉ dấu vân tay vào hợp đồng trước mặt Công chứng viên. Anh T, chị Đ, ông Đ đều xác nhận việc giao dịch, ký kết hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, đúng thực tế, không có sự gian dối hoặc ép buộc. Đối với văn bản công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã đảm bảo đúng quy định của Luật Công chứng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên công nhận Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được xác lập ngày 28/10/2019 tại Văn phòng công chứng QK có hiệu lực pháp luật là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[2.3] Đối với yêu cầu tuyên bố biên bản thỏa thuận chia tài sản sau khi ly hôn được công chứng tại Văn phòng Công chứng Hà Lanh B ngày 10/06/2020 là vô hiệu của nguyên đơn anh Cao Văn T. Sau khi ký kết hợp đồng tặng cho tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 28/10/2019 giữa anh T, chị Đ tặng cho 03 người con chung. Anh T, chị Đ lại tiếp tục có biên bản thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn lập ngày 10/6/2020 với nội dung: Chị Đ được quyền sở hữu tài sản là nhà xây trên diện tích đất có GCNQSDĐ số BA 688825 do Uỷ ban nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La cấp ngày 15/10/2010 mang tên anh Cao Văn T, chị Nguyễn Thị Tâm Đ. Biên bản đã được chị Đ yêu cầu công chứng tại Văn phòng Công chứng Hà Lanh B. Đến tháng 6/2021, chị Đ đã chuyển nhượng ngôi nhà trên cho vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị T. Bị đơn chị Nguyễn Thị Tâm Đ cho rằng việc lập biên bản thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn đề ngày 24/6/2019 giữa chị và anh T là hoàn toàn tự nguyện, đảm bảo đúng quy định. Tuy nhiên, tại các bản tự khai và tại phiên toà anh T cho biết anh không được thực hiện việc thỏa thuận chia tài sản nêu trên. Tại biên bản làm việc ngày 12/7/2021, ông Quàng Văn B – Công chứng viên thuộc Văn phòng Công chứng Hà Lanh B xác định: Vào ngày 10/6/2020 ông B có tiếp nhận Phiếu yêu cầu công chứng hợp đồng văn bản của chị Nguyễn Thị Tâm Đ yêu cầu công chứng về Biên bản thỏa thuận chia tài sản khi ly hôn đề ngày 24/6/2019 giữa anh Cao Văn T và chị Nguyễn Thị Tâm Đ. Thời điểm công chứng chỉ có mặt của chị Đ, còn anh T không có mặt. Sau khi tiếp nhận thông tin phản ánh từ anh Cao Văn T, Văn phòng Công chứng Hà Lanh B đã kiểm tra, rà soát và phát hiện dấu hiệu gian dối của chị Đ và đã có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu đối với biên bản thỏa thuận chia tài sản đề ngày 24/6/2019. Mặt khác, Hội đồng xét xử xét thấy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất ngày 28/10/2019 tại Văn phòng công chứng QK giữa anh T, chị Đ và 03 người con chung đã có hiệu lực pháp luật. Trường hợp chị Đ muốn thay đổi hoặc huỷ bỏ nội dung hợp đồng đã được công chứng phải có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng (bao gồm anh T, ông Đ) và được công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng trước đó theo quy định tại Điều 51 Luật Công chứng. Việc Hợp đồng tặng cho ngày 28/10/2019 chưa được huỷ bỏ mà chị Đ đã đến Văn phòng công chứng Hà Lanh B để yêu cầu công chứng vào biên bản thỏa thuận và cho rằng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất là tài sản riêng của chị, chưa tặng cho ai là không đúng quy định pháp luật. Đồng thời, xét theo ý chí các bên, trước đây anh T, chị Đ đã cùng thỏa thuận và thực hiện hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cho 03 con chung để có tài sản nuôi dưỡng các cháu. Đến nay, chị Đ lại thực hiện các thủ tục để chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cho người khác làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các cháu Cao Tuấn C, Cao Ngọc H, Cao Tuấn D. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của anh T về việc tuyên bố biên bản thỏa thuận chia tài sản sau khi ly hôn được công chứng tại Văn phòng Công chứng Hà Lanh B ngày 10/06/2020 là vô hiệu.

[2.4] Đối với yêu cầu thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 131407, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Sơn La cấp ngày 23/6/2020 cho bà Nguyễn Thị Tâm Đ, do chị Đ đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông bà TT nên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên đã được thay thế bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 587769, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Sơn La cấp cho bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn T ngày 11/6/2021, cần kiến nghị Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Sơn La thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên chị Đ có số CN 131407, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Sơn La cấp ngày 23/6/2020.

[2.5] Vợ chồng ông Nguyễn Văn T, bà Trần Thị T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của chị Nguyễn Thị Tâm Đ theo giấy tờ mua bán nhà đất đề ngày 05/5/2021 với số tiền là 2.780.000.000đ (hai tỷ bảy trăm tám mươi triệu đồng). Ông bà TT đã thực hiện đầy đủ thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hai vợ chồng. Xét thấy, việc nhận chuyển nhượng nhà, đất của ông bà TT là ngay tình. Tuy nhiên, do hợp đồng chia tài sản khi ly hôn được công chứng vào ngày 10/6/2020 tại Văn phòng công chứng Hà Lanh B là vô hiệu, chị Đ không có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 204a, tờ bản đồ số 21-18, địa chỉ: Bản BẨ, phường CC, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, đồng thời trong quá trình giải quyết vụ án, ông T, bà T nhất trí về việc trả lại nhà và đất cho anh T, chị Đ, do đó hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 204a, tờ bản đồ số 21-18, địa chỉ: Bản BẨ, phường CC, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữa chị Nguyễn Thị Tâm Đ và bà Trần Thị T, ông Nguyễn Văn T là vô hiệu. Chị Đ có trách nhiệm hoàn trả cho ông T, bà T số tiền 2.780.000.000đ (hai tỷ bảy trăm tám mươi triệu đồng) do hợp đồng bị vô hiệu. Tại biên bản hoà giải, ông T, bà T có yêu cầu chị Đ phải trả tiền lãi suất đối với khoản tiền nêu trên tính từ thời điểm ông bà giao kết hợp đồng là ngày 04/6/2024. Căn cứ theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự, mức lãi suất là 20% trên năm, bằng 1,66% trên tháng, trong trường hợp không xác định rõ lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% của mức lãi suất 1,66%/tháng = 0,83%/tháng. Do vậy cần buộc chị Đ phải trả số tiền lãi suất của số tiền 2.780.000.000đ (hai tỷ bảy trăm tám mươi triệu đồng) x 0,83%/tháng (kể từ 04/6/2021 đến ngày xét xử là 29/02/2024 là 33 tháng) x 33 = 761.442.000 đồng (bảy trăm sáu mươi mốt triệu bốn trăm bốn mươi hai nghìn đồng) cho ông bà T T. Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 204a, tờ bản đồ số 21-18, địa chỉ: Bản BẨ, phường CC, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giữa chị Nguyễn Thị Tâm Đ và bà Trần Thị T, ông Nguyễn Văn T là vô hiệu, cần kiến nghị Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Sơn La thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 21, tờ bản đồ số 24, có số CY 587769, do Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Sơn La cấp cho bà Trần Thị T và ông Nguyễn Văn T ngày 11/6/2021; địa chỉ thửa đất: tổ 09, phường QT, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

[2.6] Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông bà TT đã sửa chữa, thay thế, cải tạo các hạng mục gồm: Thay cửa cuốn (cửa đi chính) và ốp amunium moto với diện tích 25m2; Lát lại nền gạch Ceramic 80 x 80cm, diện tích mặt tiền phía ngoài nhà 30m2; Lan can Inox tầng lửng dài 3m; Lan can Inox mặt tiền tầng 2 dài 7m; Sửa nhà vệ sinh, xử lý chống thấm, lát gạch chống trơn, thay bệt và chậu rửa mặt tầng 2; Sửa nhà vệ sinh, xử lý chống thấm, lát gạch chống trơn, thay bệt và chậu rửa mặt tầng 3; Thay trần thạch cao tầng 3 diện tích 40m2; Thay bộ cửa khung nhôm kệ vách kính tầng 3 là 1,5m2; Chống thấm sàn bê tông mái diện tích 20m2; Lát gạch đỏ trên sàn mái diện tích 30m2; Thay mái tôn, xá gồ, kèo mái diện tích 40m2; Thay mái tôn chống nóng bằng tôn lạnh diện tích 60m2. Trong quá trình nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, ông bà TT đã cải tạo lại một số công trình cho phù hợp với sinh hoạt của gia đình, bởi việc ông bà mua nhà, đất là ngay tình. Thực tế ông bà đã sửa chữa một số hạng mục và chi phí để sửa chữa. Theo kết quả định giá của Hội đồng định giá thành phố Sơn La, tổng cộng giá trị các hạng mục, công trình mà ông bà TT đã sửa chữa, thay mới của ngôi nhà là 154.825.000 đồng (một trăm năm mươi tư triệu tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Ngôi nhà và đất trên được xem xét trả lại cho anh T chị Đ quản lý để giao cho các con, trong đó có cả những hạng mục trên vẫn đang còn giá trị sử dụng, do đó cần buộc anh T chị Đ đều phải có trách nhiệm thanh toán cho ông bà TT khoản tiền này, buộc hai anh chị mỗi người chịu một nửa là có căn cứ đúng quy định của pháp luật.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 07/2024/HNGĐ-PT NGÀY 01 – 7 – 2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 07/2024/HNGĐ-PT NGÀY 01 – 7 – 2024

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan