Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY]- Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe và danh dự bị xâm phạm

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY]- Bản án về tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe và danh dự bị xâm phạm

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Căn cứ nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn là chị N và yêu cầu phản tố của phía bị đơn, Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe và danh dự bị xâm phạm” là phù hợp với quy định tại khoản 3, khoản 6 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm, chị N, bà M, anh M1 không đồng ý với một phần quyết định của bản án sơ thẩm nên có kháng cáo. Tòa án tỉnh thụ lý giải quyết theo trình tự phúc thẩm, phù hợp với quy định tại Điều 38 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu kháng cáo của chị N về việc yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất diện tích 143 m² loại đất ở nông thôn, thuộc một phần thửa số 6, tờ bản đồ số 49, tọa lạc tại xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã M, tỉnh Đồng Tháp). Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Các bên đương sự đều thừa nhận nguồn gốc đất mà bà N và bà K đang quản lý, sử dụng là của bà Đoàn Thị T3, là cô ruột ông Đoàn Hồng A, để lại cho ông Đoàn Hồng A làm đất hương quả thờ cúng ông bà. Vào ngày 02/3/1992, ông Đoàn Hồng A có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Đoàn Hồng A vào ngày 16/01/1993 đối với các thửa đất số 180b, 180c, tờ bản đồ số 3a, tọa lạc tại ấp A, xã H, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Đến ngày 20/01/2011, ông Đoàn Hồng A thực hiện thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận và được Ủy ban nhân dân huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 917763, số vào sổ cấp GCN CH02763 đối với thửa đất số 6, tờ bản đồ số 49, diện tích 1.529,7 m² vào ngày 20/01/2011 cho hộ ông Đoàn Hồng A. Phần đất tranh chấp diện tích 143 m² thuộc một phần thửa đất số 6 nêu trên.

Chị N cho rằng mình là người sử dụng đất ngay tình do đã trực tiếp quản lý, sử dụng đất trong thời gian trên 30 năm. Tuy nhiên, quá trình giải quyết tranh chấp, chị N thừa nhận và xác định rõ nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cô ruột ông Đoàn Hồng A. Đồng thời, chị N cũng biết ông Đoàn Hồng A đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này từ năm 2011. Do đó, không có căn cứ xác định chị N là người chiếm hữu, sử dụng đất ngay tình như chị đã trình bày.

Bên cạnh đó, chị N hiện đang quản lý, sử dụng thửa đất số 49, tờ bản đồ số 54, diện tích 1.471,0 m² (bút lục 232), nên việc chị N cho rằng không còn nơi nào khác để ở là không có cơ sở xem xét, chấp nhận.

Mặt khác, theo trình bày của chính chị N, giữa hai gia đình đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng trong quá trình sinh hoạt. Mâu thuẫn giữa hai bên gia đình đã phát sinh trong thời gian dài, trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục cùng sinh sống, sinh hoạt chung trong cùng một khuôn viên. Vì vậy, việc chị N không đồng ý di dời, trả lại đất là không phù hợp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, chị N yêu cầu bà M, anh M1 hỗ trợ chi phí di dời với số tiền 100.000.000 đồng. Bà M, anh M1 không đồng ý hỗ trợ chi phí di dời. Chị N cũng không có chứng cứ để chứng minh cho việc phải chi các khoản chi phí này nên không có cơ sở xem xét, chấp nhận.

Đồng thời, tại phiên tòa, chị N cũng không đồng ý việc giao lại căn nhà để phía gia đình bà M, anh M1 trả giá trị căn nhà.

Xét yêu cầu kháng cáo của anh M1, bà M về việc buộc bà N bồi thường thiệt hại gồm: tổn thất tinh thần, danh dự, sức khỏe 150.000.000 đồng; chi phí chăm sóc, điều trị từ ngày 18/3/2024 đến ngày ông Đoàn Hồng A chết và chi phí mai táng 100.000.000 đồng, tổng cộng 250.000.000 đồng. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

Về yêu cầu bồi thường tổn thất tinh thần, danh dự, sức khỏe với số tiền 150.000.000 đồng:

Anh M2 và bà M không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc chị N có hành vi vu khống, bịa đặt hoặc có hành vi khác xâm phạm trực tiếp đến danh dự, nhân phẩm của ông Đoàn Hồng A.

Việc chị N khởi kiện vụ án là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mà chị N cho rằng mình bị xâm phạm. Ngoài việc thực hiện quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật, anh M2, bà M không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện việc chị N có hành vi bịa đặt, vu khống hoặc xúc phạm danh dự, nhân phẩm của ông Đoàn Hồng A. Do đó, không có căn cứ xác định ông Đoàn Hồng A bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm để làm cơ sở chấp nhận yêu cầu bồi thường. Vì vậy, yêu cầu của anh M2, bà M về việc buộc bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm là không có căn cứ chấp nhận.

Về chi phí chăm sóc, điều trị từ ngày 18/3/2024 đến ngày ông Đoàn Hồng A chết và chi phí mai táng với số tiền 100.000.000 đồng:

Như đã nhận định ở trên, việc chị N khởi kiện là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Việc khởi kiện không có mối liên hệ nhân quả với tình trạng bệnh của ông Đoàn Hồng A.

Ông Đoàn Hồng A sinh năm 1947, có nhiều bệnh nền như tăng lipid máu hỗn hợp, tăng huyết áp, lao phổi cũ (bút lục 73). Phía anh M2, bà M cho rằng việc chị N khởi kiện dẫn đến việc ông Đoàn Hồng A tức giận, bị nhồi máu cơ tim là hoàn toàn không có cơ sở khoa học. Do đó, đối với yêu cầu buộc chị N chịu chi phí chăm sóc, điều trị và mai táng phí cho ông Đoàn Hồng A với số tiền 100.000.000 đồng của bà M, anh M2 thì không có căn cứ chấp nhận.

Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị N; không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M, anh M2. Giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Khu vực 7 – Đồng Tháp.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát trình bày và đề nghị: Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị N về việc giao lại căn nhà cho bà M, anh M2 quản lý, sử dụng; bà M, anh M2 trả lại giá trị căn nhà cho chị N theo giá mà Hội đồng định giá đã xác định; không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà M, anh M2 về việc yêu cầu chị N bồi thường thiệt hại.

Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy, tại phiên tòa phúc thẩm, qua phân tích, động viên đối với ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, các bên đều không thống nhất. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận một phần lời trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 662/2026/DS-PT ngày 05/08/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 662/2026/DS-PT ngày 05/08/2026 

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan