NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp thụ lý và giải quyết sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại về tài sản và hợp đồng vay tài sản” là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a, c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án. Việc bà Đinh Thị T là nguyên đơn nộp đơn kháng cáo ngày 11/5/2026 là trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Văn phòng C, ông Ngô Tấn P vắng mặt sau khi được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai; bà Trần Thị N, anh Trần Tấn K, ông Trần Thanh X vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Đinh Thị T yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án theo đúng quy định pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Nguyên đơn cho rằng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 30/12/2025 và ngày 20/01/2026, Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Dương Hồng T3 không có mặt tham gia nhưng vẫn ký tên vào biên bản.
Xét thấy, tại Kết luận nội dung tố cáo số 04/KL-TAKV2 ngày 29/6/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Đồng Tháp kết luận: Việc Thư ký Dương Hồng T3 vắng mặt tại hai buổi hòa giải ngày 31/12/2025 và ngày 20/01/2026 được Thẩm phán X và Thư ký T3 thừa nhận nên xác định đây là sự việc có thật. Việc Thư ký ghi biên bản phiên họp vắng mặt tại hai phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nêu trên là vi phạm về thành phần tham gia phiên họp được quy định tại khoản 1 Điều 209 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn cho rằng tại cấp sơ thẩm, cả nguyên đơn và bị đơn đều yêu cầu công khai và đề nghị Tòa án cấp sơ thẩm mở các file ghi âm để làm rõ nội dung vụ việc nhưng Hội đồng xét xử không xem xét, không mở các file ghi âm.
Xét thấy, nguyên đơn có cung cấp USB màu trắng, hiệu KIOXIA 32 GB, vào ngày 27/3/2026 gồm 02 đoạn ghi âm. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không công khai nội dung tài liệu, chứng cứ nêu trên để từ đó xác minh, đánh giá từng chứng cứ, sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định tính hợp pháp, tính liên quan, giá trị chứng minh của từng chứng cứ được quy định tại Điều 108 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại Đơn khởi kiện phản tố đề ngày 09/12/2025 (Bút lục 89), Bản tự khai phản tố đề ngày 09/12/2025 (Bút lục 86), Thông báo về việc thụ lý vụ án bổ sung (yêu cầu phản tố) số 459/TB-TLVA ngày 06/01/2026 (Bút lục 94), Biên bản hòa giải ngày 31/12/2025 (Bút lục 51), Biên bản hòa giải ngày 20/01/2026 (Bút lục 105), ông Võ Thế Q yêu cầu ông Ngô Tấn P và bà Đinh Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho ông Q số tiền gồm: Vốn gốc 850.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 09/8/2023 đến ngày 09/12/2025 là 28 tháng, trừ đi số tiền đã đóng 95.000.000 đồng: (850.000.000 đồng x 1,66%/tháng x 28 tháng) – 95.000.000 đồng = 299.630.000 đồng. Tổng cộng 1.149.630.000 đồng.
Tuy nhiên, phần nhận định mục [3.6] trang 11 và phần quyết định mục 3 trang 12 của bản án sơ thẩm tuyên xử: Buộc bà Đinh Thị T và ông Ngô Tấn P có trách nhiệm liên đới trả lại cho ông Võ Thế Q số tiền vốn 850.000.000 đồng và tiền lãi 351.666.660 đồng, tổng cộng 1.201.366.660 đồng.
Như vậy, Tòa án sơ thẩm đã xét xử vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu của ông Q được quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Từ những phân tích nêu trên, xét những thiếu sót, vi phạm của Tòa án cấp sơ thẩm và việc nguyên đơn cung cấp USB màu bạc, hiệu Kingston DTSE9 32 GB, vào ngày 03/8/2026 (giai đoạn xét xử phúc thẩm), gồm 03 đoạn ghi âm, đây là tình tiết phát sinh mới cần được xác minh, đánh giá với các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án để giải quyết khách quan, đúng quy định pháp luật mà Tòa án cấp phúc thẩm không khắc phục được nên cần thiết hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý, giải quyết lại theo quy định của pháp luật. Do bản án sơ thẩm vi phạm thủ tục tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung vụ án, khi thu thập đầy đủ sẽ được xem xét, giải quyết theo quy định.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 749/2026/DS-PT NGÀY: 04-9-2026 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 749/2026/DS-PT NGÀY: 04-9-2026
…………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn