
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về tố tụng: Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Hồ Chí Minh là đúng thẩm quyền và còn trong thời hạn luật định là hợp lệ. Đơn kháng cáo của Công ty TNHH C làm trong hạn luật định, thủ tục kháng cáo theo đúng quy định của pháp luật là hợp lệ nên đủ điều kiện để thụ lý, xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Các đương sự vắng mặt, đã có đơn xin xét xử vắng mặt hoặc được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH C và quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh:
[3.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và xác định đương sự tham gia tố tụng
Bà Nguyễn Thị D khởi kiện yêu cầu Tòa án tuyên bố Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng doanh nghiệp ngày 16/5/2020 và Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp ngày 23/5/2020 giữa bà Nguyễn Thị D và Công ty TNHH C là vô hiệu. Công ty V có yêu cầu phản tố yêu cầu bà D phải trả tiền phạt, bồi thường do bà D vi phạm Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp ngày 23/5/2020. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng doanh nghiệp” là không đúng. Trong trường hợp này cần xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng cổ phần (vốn góp) doanh nghiệp”.
Tại Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng doanh nghiệp ngày 16/5/2020 ông Võ Phát T ký tên với tư cách là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH C. Tại Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp ngày 23/5/2020 ông Võ Phát T ký tên với tư cách là chủ sở hữu phần vốn góp tại Công ty V, tại Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp này ông T ký tên với tư cách cá nhân ông T, không phải với tư cách là người đại diện theo pháp luật của Công ty V. Ngoài ra, tại bảng kê chuyển tiền do bà D xuất trình, bà D cho rằng đã chuyển cho cá nhân ông Võ Phát T 48.227.241.800 đồng và chuyển cho Công ty V 7.119.075.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm không đưa ông Võ Phát T tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là đưa thiếu người tham gia tố tụng.
[3.2] Tại Đơn khởi kiện đề ngày 15/3/2021 (BL 01) và trong quá trình giải quyết vụ án bà D trình bày: “Ngày 16/5/2020, bà D và Công ty Trách nhiệm hữu hạn C (viết tắt là Công ty V) có lập Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng doanh nghiệp, theo đó tài sản chuyển nhượng là toàn bộ tài sản của Công ty V bao gồm quyền sử dụng đất, nhà xưởng, máy móc, thiết bị; giá chuyển nhượng là 80.000.000.000 đồng. Bà D đã chuyển cho Công ty V tổng số tiền 57.088.094.348 đồng (làm tròn 57.088.094.000 đồng), cụ thể: Giai đoạn 1: Bà D đã đặt cọc trước khi ký thoả thuận chuyển nhượng ngày 16/5/2020 là 11.500.000.000 đồng vào các ngày 13/6/2019, 03/12/2019 và 25/3/2020; giai đoạn 2: Từ ngày ký thỏa thuận chuyển nhượng ngày 16/5/2020 đến ngày 10/9/2020 bà D đã chuyển 45.588.094.348 đồng (làm tròn 45.588.094.000 đồng)”.
và góp vốn dưới hình thức trang trải chi phí mua máy, đầu tư xây dựng (BL 167 – không có chữ ký xác nhận của ông Võ Phát T hoặc Công ty V) thể hiện:
[3.3.1] Từ ngày 13/6/2019 đến trước ngày 16/5/2020 (ngày ký Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng doanh nghiệp) ông Trần Văn S, Công ty cổ phần X, bà Cao Lê Thúy V, bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Hồng C, bà Nguyễn Thanh Hoàng Y, bà Lương Thanh N1 đã chuyển tiền 33 lần với tổng số tiền là 55.346.316.800 đồng, cho người nhận là ông Võ Phát T (48.227.241.800 đồng) và Công ty V (7.119.075.000 đồng). Trong đó:
– Ông Trần Văn S chuyển cho ông Võ Phát T 5.000.000.000 đồng.
– Công ty cổ phần X chuyển cho ông Võ Phát T 6.000.000.000 đồng.
– Bà Cao Lê Thúy V chuyển cho ông Võ Phát T 410.805.400 đồng.
Bà Nguyễn Thị Diệu C2 cho ông Võ Phát T 27.824.386.400 đồng; chuyển cho Công ty V 5.417.625.000 đồng.
Ông Nguyễn Hồng C chuyển cho ông Võ Phát T 8.162.000.000 đồng; chuyển cho Công ty V 1.067.700.000 đồng.
đồng. Bà Nguyễn Thanh Hoàng Y chuyển cho ông Võ Phát T 1.104.000.000
Lương Thanh N1 chuyển cho ông Võ Phát T 359.800.000 đồng.
[3.3.2] Sau ngày 16/5/2020 (ngày ký Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng doanh nghiệp), bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng  đã chuyển tiền 12 lần với tổng số tiền 1.741.777.548 đồng cho người nhận là Công ty V. Trong đó:
– Bà Nguyễn Thị Diệu C2 cho Công ty V 1.513.620.000 đồng.
– Ông Nguyễn Hồng C chuyển cho Công ty V 80.000.000 đồng.
– Ông Nguyễn Hồng  chuyển cho Công ty V 148.157.548 đồng.
[3.4] Xét thấy, tại Bảng kê chuyển tiền do bà D xuất trình thể hiện sau ngày 16/5/2020 bà D chỉ chuyển cho Công ty V số tiền 1.741.777.548 đồng. Đối với số tiền chênh lệch, bà D không cung cấp được chứng cứ chứng minh từ ngày 16/5/2020 đến ngày 10/9/2020 bà D có chuyển cho Công ty V số tiền 43.846.316.800 đồng (45.588.094.348 đồng – 1.741.777.548 đồng). Tòa án cấp sơ thẩm chưa yêu cầu bà D cung cấp chứng cứ chứng minh từ ngày 16/05/2020 đến ngày 10/09/2020 bà D có chuyển cho Công ty V số tiền 43.846.316.800 đồng là chưa đủ căn cứ để giải quyết vụ án.
[3.5] Về thỏa thuận của các bên tại Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng doanh nghiệp và Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp:
Tại Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng doanh nghiệp ngày 16/5/2020 giữa Công ty TNHH C – Bên A (do ông Võ Phát T làm đại diện theo pháp luật) và bà Nguyễn Thị D – Bên B, ký kết có nội dung:
“Điều 2: Phương thức thanh toán: Bên A đồng ý chuyển nhượng tài sản với giá 80 tỷ đồng theo tình trạng mà Bên B đã xem xét, các bên đồng ý phương thức thanh toán như sau:
– Lần 1: Bên B đã đặt cọc cho Bên A số tiền mặt là 11.500.000.000 đồng (Mười một tỷ năm trăm triệu đồng) chia làm 03 lần: lần 1: vào ngày 10/6/2019 số tiền 5.000.000.000đ (Năm tỷ đồng); lần 2: vào ngày 03/12/2019 số tiền 3.000.000.000₫ (Ba tỷ đồng); lần 3: vào ngày 25/3/2020 số tiền là 3.500.000.000₫ (Ba tỷ năm trăm triệu đồng) để đảm bảo thực hiện việc mua bán.
Lần 2: Vào ngày 15/7/2020 Bên B sẽ tiếp tục trả cho Bên A số tiền 3.500.000.000₫
Lần 3: Vào ngày 25/12/2020 Bên B sẽ tiếp tục trả cho Bên A số tiền 65.000.000.000₫ (Sáu mươi lăm tỷ đồng). Sau khi Bên B trả cho Bên A số tiền này thì Bên A1 tiến hành Sau khi ký kết Hợp đồng này Bên, thủ tục xin cấp đổi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
* Nếu đến ngày 25 tháng 12 năm 2020 mà Bên B không tiếp tục trả cho Bên A số tiền 65.000.000.000₫ (Sáu mươi lăm tỷ đồng) thì Bên B phải trả lãi cho Bên A với lãi suất 1%/tháng. Thời gian được tính lãi từ ngày 15/7/2020 và thời hạn thanh toán dứt điểm là trước ngày 15/7/2021
– Nếu đến ngày 15/7/2021 mà Bên B vẫn chưa thanh toán số tiền còn lại cho Bên A thì Bên B phải trả lãi cho Bên A với lãi suất 1,5%/tháng được tính từ ngày 15/7/2021. Thời hạn thanh toán dứt điểm là trước ngày 15/12/2021.
* Bên B phải trả lãi hàng tháng cho Bên A. Nếu 03 tháng liên tục Bên B không trả lãi xem như Bên B đã vi phạm những gì đã thỏa thuận. Bên A có quyền đơn phương hủy bỏ những gì mà hai bên đã thỏa thuận. Bên A có quyền chuyển nhượng tài sản của công ty cho người khác và không hoàn trả lại cho Bên B số tiền đã nhận.
* Bên B được nhận lại 02 máy sấy mà Bên B đã đầu tư vào Công ty.
* Nếu đến ngày 15/12/2021, mà Bên B vẫn chưa thanh toán theo những gì mà hai bên đã thỏa thuận nêu trên thì Bên B sẽ không được nhận lại số tiền 15.000.000.000₫ (Mười lăm tỷ đồng).
– Sau khi ký kết Hợp đồng này Bên B được đưa người của Bên B vào Công ty để thực tập và bàn giao; mọi chi phí phát sinh liên quan đến quyền và lợi ích của các nhân viên sẽ do Bên B tự chịu trách nhiệm.
– Hiện tại Công ty TNHH C không có công nợ. Nếu Bên B xây dựng hoặc sửa chữa phát sinh công nợ thì Bên B sẽ chịu trách nhiệm trả toàn bộ chi phí phát sinh này.
– Sau khi ký kết Văn bản thỏa thuận này Bên A vẫn là người đại diện theo pháp luật của Công ty. Bên A vẫn trực tiếp quản lý và ký tên trên tất cả các giấy tờ phát sinh có liên quan đến hoạt động Công ty. Bên A sẽ quản lý các công nợ (nếu có) của Công ty có liên quan như: nợ thuế, nợ lương, nợ bảo hiểm xã hội, nợ nguyên liệu đầu vào, nợ xây dựng, sửa chữa thiết bị… Nhưng tổng công nợ trong quá trình mà Bên B kinh doanh không được vượt quá 2.000.000.000₫ (Hai tỷ đồng Việt Nam). Việc quản lý này sẽ được thực hiện cho đến khi Bên B trả đủ tiền và đứng tên làm người đại diện theo pháp luật của Công ty.
– Trong thời gian làm người đại diện theo pháp luật của Công ty thì Bên A sẽ không hưởng bất kỳ một khoản lợi nhuận nào từ việc kinh doanh của Công ty. Bên A chỉ hưởng một khoản phí cho việc quản lý nêu trên do Bên B trực tiếp chỉ trả theo sự thỏa thuận của hai bên được thể hiện bằng một văn bản khác.
– Bên A cam đoan sẽ không mở bất kỳ kinh doanh trái cây sấy dẻo nào tại Việt Nam sau khi ký Văn bản thỏa thuận này” (BL 40).
Tại Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp ngày 23/5/2020 giữa ông Võ Phát T, bà Phan Thị Hồng L1 (Bên A – bên chuyển nhượng) và bà Nguyễn Thị D (Bên B – Bên nhận chuyển nhượng) có nội dung: Sau khi bàn bạc và thỏa thuận, hai bên thống nhất ký kết thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ phần vốn góp của Bên A trong Công ty TNHH C với giá 80.000.000.000 đồng; Tại điểm 2 Điều 4 quy định nghĩa vụ của Bên B: “Thanh toán đầy đủ, đúng hạn giá trị Hợp đồng như quy định của Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng doanh nghiệp ngày 16/5/2020″; Điều 6 cam đoan của các bên: “- Từ ngày 20/6/2019 Bên B đã đầu tư mua thêm máy móc, thiết bị vào Công ty TNHH C khoảng 40.000.000.000 đồng (Bốn mươi tỷ đồng) (Căn cứ vào các chứng từ mua máy ở nước ngoài và chứng từ sửa chữa tại Công ty). Trong trường hợp Bên B không tiếp tục thực hiện theo Văn bản thỏa thuận doanh nghiệp đã được ký kết vào ngày 16/5/2020 thì Bên B được nhận lại tất cả máy móc, thiết bị mà Bên B đã đầu tư; Sau khi đồng ý cho Bên B đầu tư máy móc thiết bị vào ngày 10/6/2019 Bên A đã không còn hoạt động kinh doanh trong Công ty mà chuyển giao việc kinh doanh cho Bên B vì thế nếu Bên B không tiếp tục thực hiện việc chuyển nhượng thì Bên B phải bị mất cọc và phải bồi thường cho Bên A một khoảng tiền là 1.000.000.000 đồng/ tháng được tính từ ngày 10/6/2019″ (BL 223).
Xét thấy, tại Bảng kê chuyển tiền do bà D xuất trình (không có chữ ký xác nhận của ông T hoặc Công ty V) thể hiện từ ngày 13/6/2019 đến trước ngày 16/5/2020 ông Trần Văn S, Công ty Cổ phần X, bà Nguyễn Thị D, ông Nguyễn Hồng C, bà Cao Lê Thùy V1, bà Nguyễn Thanh Hoàng Y, bà Lương Thanh N1 đã chuyển cho ông Võ Phát T, Công ty V tổng số tiền 55.346.316.800 đồng. Tại Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng ngày 16/5/2020 hai bên thống nhất bà D đã đặt cọc cho Công ty V số tiền 11.500.000.000 đồng vào các ngày 10/6/2019, 03/12/2019, 25/3/2019. Đối với chiếu với các tài liệu, chứng cứ do bà D xuất trình thể hiện: Số tiền 5.000.000.000 đồng do ông Trần Văn S giao ngày 10/6/2019 (BL 42); số tiền 3.000.000.000 đồng do bà D chuyển vào tài khoản cá nhân của ông T ngày 03/12/2019 với nội dung “Góp vốn V (gửi chú trả Cô A)” (BL 23); số tiền là 3.500.000.000 đồng bà D chuyển vào tài khoản Công ty V ngày 25/3/2020 với nội dung “Nguyễn Thị Diệu góp vốn” (BL 23). Như vậy, trong tổng số tiền 55.346.316.800 đồng đã chuyển trước khi ký Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng thì hai bên chỉ thỏa thuận số tiền 11.500.000.000 đồng là tiền đặt cọc.
Ngoài ra, Tại Văn bản thỏa thuận chuyển nhượng doanh nghiệp ngày 16/5/2020 và Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp ngày 23/5/2020 có nội dung thể hiện trước khi ký Văn bản thỏa thuận từ ngày 20/6/2019 bà D đã đầu tư mua thêm máy móc, thiết bị vào Công ty TNHH C khoảng 40.000.000.000 đồng, trong trường hợp bà D không tiếp tục thực hiện theo Văn bản thỏa thuận doanh nghiệp đã được ký kết vào ngày 16/5/2020 thì bà D được nhận lại tất cả máy móc, thiết bị mà Bên B đã đầu tư. Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ trong tổng số tiền 55.346.316.800 đồng chuyển từ ngày 13/6/2019 đến trước ngày 16/5/2020 khoản nào là tiền đặt cọc, khoản nào là tiền mua máy móc, thiết bị là chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án.
[3.6] Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Công ty cổ phần X, bà Cao Lê Thùy V1, bà Lương Thanh N1, ông Nguyễn Hồng  vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để lấy lời khai làm rõ việc chuyển tiền, mục đích các lần chuyển tiền là đưa thiếu người tham gia tố tụng, chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án.
[3.7] Tại Bản tự khai ngày 28/5/2025 ông Đoàn Văn S1 trình bày: “Thông qua các mối quan hệ, tôi và anh Trần Văn S có giới thiệu nguyên đơn bà Nguyễn Thị D cho Công ty V để các bên cùng thỏa thuận về việc chuyển nhượng doanh nghiệp. Anh Trần Văn S cũng đã trình bày toàn bộ kế hoạch chuyển nhượng trước đó giữa Công ty C và Công ty V cho bà Nguyễn Thị Diệu N rõ. Qua nhiều lần trao đổi thì bà Nguyễn Thị D đồng ý chuyển nhượng doanh nghiệp V4. Ban đầu, bà D dự định mua lại phần vốn góp của bà Phan Thị Hồng L1 tại Công ty V để có thể tham gia quản lý Công ty V với ông Võ Phát T nên có nhờ tôi cùng anh Trần Văn S cùng đứng tên phần vốn góp này với bà D thông qua Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp ngày 22/07/2019 lập tại Văn phòng C3, Tỉnh Đồng Tháp.
Sau đó, bà D lại thay đổi ý kiến, bà D muốn thực hiện việc chuyển nhượng doanh nghiệp tương tự như văn bản “Lộ trình chuyển nhượng doanh nghiệp” và Biên bản thỏa thuận đặt mua máy móc thiết bị” trước đó của Công ty C và Công ty V nên bà đề nghị tôi và anh Trần Văn S cùng ký “Văn bản thỏa thuận v/v không thực hiện hợp đồng chuyển nhượng vốn góp” ngày 15/05/2020 cũng lập tại Văn phòng C3, Tỉnh Đồng Tháp. Vì vậy, tôi và anh Trần Văn S đã hoàn toàn không còn liên quan gì đến bà D cũng như Công ty V.
Thời gian sau, tôi được biết bà D và ông T, bà LI đã thỏa thuận và ký kết hợp đồng thực hiện việc chuyển nhượng doanh nghiệp. Việc bà D cho rằng bà D bị nhầm lẫn về giá trị của Công ty V theo tôi là chưa chính xác” (BL 1221).
Tại Bản tự khai ngày 28/5/2025 ông Trần Văn S trình bày: “Ngày 25/5/2019, Công ty TNHH C – Bên A ký văn bản “Lộ trình chuyển nhượng doanh nghiệp” Công ty TNHH S – Bên B do ông Trần Văn S là Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty. Theo đó, Bên A chuyển nhượng cho Bên B toàn bộ tài sản của Công ty V với giá 80.000.000.000 đồng (T3 mươi tỷ đồng) theo tình trạng mà Bên B đã xem xét và chấp nhận. Ngày 27/05/2019, Công ty V và Công ty C ký “Biên bản thỏa thuận đặt mua máy móc thiết bị” để tiếp tục thực hiện theo văn bản “Lộ trình chuyển nhượng doanh nghiệp” trước đó. Ngày 13/6/2019, tôi Trần Văn S đã chuyển cho Công ty V số tiền đặt cọc là 5.000.000.000 đồng.
Tuy nhiên, do tình hình tài chính nên Công ty C đã đề xuất cùng Công ty V ký “Văn bản thỏa thuận không thực hiện hợp đồng chuyển nhượng vốn góp” ngày 15/6/2019 và Công ty C không còn liên quan gì đến Công ty V. Công ty C đề nghị sẽ hỗ trợ tìm kiếm đối tác khác để chuyển nhượng Công ty V.
Thông qua các mối quan hệ, tôi và anh Đoàn Văn S1 có giới thiệu nguyên đơn bà Nguyễn Thị D cho Công ty V để các bên cùng thỏa thuận về việc chuyển nhượng doanh nghiệp. Tôi, Trần Văn S cũng đã trình bày toàn bộ kế hoạch chuyển nhượng trước đó giữa Công ty C và Công ty V cho bà Nguyễn Thị Diệu N rõ. Qua nhiều lần trao đổi thì bà Nguyễn Thị D đồng ý chuyển nhượng doanh nghiệp V4. Ban đầu, bà D dự định mua lại phần vốn góp của bà Phan Thị Hồng L2 tại Công ty V để có thể tham gia quản lý Công ty V với ông Võ Phát T nên có nhờ tôi cùng anh Đoàn Văn S1 cùng đứng tên phần vốn góp này với bà D thông qua Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp ngày 22/07/2019 lập tại Văn phòng C3, Tỉnh Đồng Tháp.
Sau đó, bà D lại thay đổi ý kiến, bà D muốn thực hiện việc chuyển nhượng doanh nghiệp tương tự như văn bản “Lộ trình chuyển nhượng doanh nghiệp” và “Biên bản thỏa thuận đặt mua máy móc thiết bị” trước đó của Công ty C và Công ty V nên bà đề nghị tôi và anh Đoàn Văn S1 cùng k “Văn bản thỏa thuận v/v không thực hiện hợp đồng chuyển nhượng vốn góp” ngày 15/05/2020 cũng lập tại Văn phòng C3, Tỉnh Đồng Tháp. Vì vậy, tôi và anh Đoàn Văn S1 đã hoàn toàn không còn liên quan gì đến bà D cũng như Công ty V.
Thời gian sau, tôi được biết bà D và ông T, bà L1 đã thỏa thuận và ký kết hợp đồng thực hiện việc chuyển nhượng doanh nghiệp. Việc bà D cho rằng bà D bị nhầm lẫn về giá trị của Công ty V theo tôi là chưa chính xác” (BL 1223).
Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập Biên bản thỏa thuận đặt mua máy móc thiết bị ngày 27/5/2019 giữa Công ty TNHH C và Công ty TNHH S là chưa đủ cơ sở để xác định số tiền 55.346.316.800 đồng bà D chuyển cho ông T, Công ty V trước khi ký Văn bản thỏa thuận doanh nghiệp ngày 16/5/2020 (từ ngày 13/6/2019 đến trước ngày 16/5/2020) là tiền đặt cọc, tiền nhận chuyển nhượng vốn góp hay tiền mua máy móc, thiết bị.
[3.8] Tại Văn bản thỏa thuận không thực hiện hợp đồng chuyển nhượng vốn góp ngày 16/5/2020 giữa Công ty TNHH C (bên chuyển nhượng) và Công ty TNHH S (bên nhận chuyển nhượng) có nội dung: “Nguyên Vào Ngày 25 tháng 5 năm 2019 chúng tôi có lập hợp đồng chuyển nhượng vốn góp. Nay bằng văn bản này chúng tôi thỏa thuận như sau: Điều 1. Chúng Tôi cùng đồng ý hủy bỏ không thực hiện hợp đồng chuyển nhượng vốn góp nêu trên vô điều kiện; Điều 2. Kể từ ngày ký văn bản về việc hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng vốn góp và được cùng nhau đồng ý và hợp đồng vốn góp không còn hiệu lực nữa. Các bên hoàn trả những gì đã nhận của nhau theo hợp đồng này và không bên nào yêu cầu bồi thường bất kỳ khoản nào” (BL 1286).
Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập hợp đồng chuyển nhượng vốn góp ngày 25/5/2019 giữa Công ty V và Công ty C, chưa làm rõ quá trình thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng vốn góp này trên thực tế là chưa đủ cở sở để giải quyết vụ án.
[3.9] Tại BL 181 có nội dung ghi tay: “Gửi chú: Lần 1 tiền EURO 10.000 tiền VNĐ 257.000.000; Lần 2 tiền EURO 4.000 tiền VNĐ 102.300.000; Tổng tiền EURO 14.000 tiền VNĐ 359.800.000. Ngày 06/12/2019 N1 giao cho chú T” không có chữ ký xác nhận của ông T; Phiếu chi số 000512 ngày 26/02/2020 của Công ty cổ phần Đ có nội dung: “Lý do nhận: CD đổi Ero, số tiền 633.750.000 đồng” để trống tên người nhận tiền, không có chữ ký của ông T (BL 191); Phiếu chi ngày 20/8/2020 của Công ty cổ phần Đ có nội dung “Họ tên người nhận tiền: Công ty V; Lý do nhận: Hồng Ân chuyển TK Việt Đức thanh toán tiền bao bì Lê G1 (06/6/20); số tiền 33.000.000 đồng” không có chữ ký của ông T (BL 197); Phiếu chi ngày 20/8/2020 của Công ty cổ phần Đ có nội dung “Họ tên người nhận tiền: Công ty V; Lý do nhận: Hồng Ân chuyển TK Việt Đức trả tiền kho lạnh TST (08/6/20); số tiến 115.157.548 đồng” không có chữ ký của ông T (BL 197).
[3.10] Tại các biên nhận, phiếu chi không có chữ ký xác nhận của Công ty V hoặc ông Võ Phát T, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ bị đơn có thừa nhận các khoản tiền này hay không, nếu bị đơn thừa nhận thì đây là khoản tiền gì? Là tiền đặt cọc, tiền nhận chuyển nhượng vốn góp hay tiền mua máy móc, thiết bị, chi phí phí quản lý là chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án.
Ngoài ra, bà D còn cung cấp ảnh chụp màn hình kết quả giao dịch: Biên lai chuyển tiền nhanh ngày 12/4/2020 thể hiện tài khoản trích nợ 0181003399916, tài khoản ghi có 110000122585 tên người thụ hưởng CT TNHH CONG NGHE THUC PHAM VIET DUC ngân hàng V5, số tiền 76.500.000 đồng (BL 185), không thể hiện tên chủ tài khoản chuyển, nội dung giao dịch; Biên lai chuyển tiền nhanh ngày 16/4/2020 thể hiện tài khoản trích nợ 0181003399916, tài khoản ghi có 110000122585 tên người thụ hưởng CT TNHH CONG NGHE THUC PHAM VIET DUC ngân hàng V5, số tiền 16.750.000 đồng (BL 188), không thể hiện tên chủ tài khoản chuyển, nội dung giao dịch; Chụp màn hình kết quả giao dịch có nội dung: “Quý khách đã thực hiện chuyển thành công 98,500,000 VND cho CT TNHH CONG NGHE THUC PHAM VIET DUC số tài khoản 110000122585 ngân hàng C4 (V5)” (BL 192); Chụp màn hình kết quả giao dịch có nội dung: “Quý khách đã thực hiện chuyển thành công 128,920,000 VND cho CT TNHH CONG NGHE THUC PHAM VIET DUC số tài khoản 110000122585 ngân hàng C4 (V5)” (BL 193).
Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ ai là người chuyển tiền, nội dung giao dịch, khoản tiền này là tiền gì? Là tiền đặt cọc, tiền nhận chuyển nhượng vốn góp hay tiền mua máy móc, thiết bị, chi phí quản lý là chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ án.
[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ khi giải quyết vụ án mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể khắc phục được. Do đó, cần chấp nhận quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh, chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty TNHH C, hủy Bản án sơ thẩm số 03/2025/KDTM-ST ngày 29/9/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp, giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
[5] Nhận định trên đây cũng là căn cứ để chấp nhận quan điểm của đại diện Viện công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa phúc thẩm.
[6] Bản án sơ thẩm bị hủy do chưa thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ nên Hội đồng xét xử chưa xem xét đến nội dung vụ án.
[7] Về án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm:
Do hủy bản án sơ thẩm nên Công ty TNHH C không phải chịu án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.
[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 12/2026/KDTM-PT NGÀY 09-2-2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO – TÒA PHÚC THẨM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 12/2026/KDTM-PT
…………….
Luật sư tại Đà Nẵng:
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn