Feel free to go with the truth

Trang chủ / Lao động / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hợp đồng lao động vô hiệu do không đúng người lao động tham gia ký kết hợp đồng lao động

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Hợp đồng lao động vô hiệu do không đúng người lao động tham gia ký kết hợp đồng lao động

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp về lao động giữa nguyên đơn bà Phan Thị H và Công ty TNHH Đ (nay là Công ty TNHH M1) thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 4 – Đà Nẵng theo quy định tại Điều 32, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Bị đơn Công ty TNHH Đ (nay là Công ty TNHH M1); người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng, bà Dương Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[1.3] Về thủ tục hòa giải tranh chấp lao động cá nhân trước khi khởi kiện: Bà Phan Thị H đã nộp đơn yêu cầu hòa giải đến Phòng văn hóa xã hội Ủy ban nhân dân phường H, Đà Nẵng để yêu cầu hòa giải và được hướng dẫn đối với việc người lao động mượn hồ sơ của người khác là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

[1.4] Về luật áp dụng: Tranh chấp hợp đồng lao động trong khoảng thời gian từ tháng 7/2009 đến tháng 6/2010 nên áp dụng Bộ luật lao động 1994 được áp dụng.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Bà Phan Thị H khởi kiện yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Phan Thị H (do bà Dương Thị Ngọc M hồ sơ của bà H để giao kết hợp đồng lao động) và Công ty TNHH Đ từ tháng 07 năm 2009 đến tháng 06 năm 2010 là vô hiệu do không đúng người lao động tham gia ký kết hợp đồng lao động.

[2.2] Hội đồng xét xử xét thấy: việc bà N lấy giấy chứng minh nhân dân tên Phan Thị H để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH Đ là hành vi lừa dối về mặt chủ thể khi xác lập giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 127 Bộ luật dân sự, vi phạm nguyên tắc trung thực và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động quy định tại điều 15, điều 16 Bộ luật lao động, mặc dù bà H, bà N không cung cấp được hợp đồng lao động giữa Công ty TNHH Đ và bà Dương Thị N. Bị đơn Công ty TNHH Đ thống nhất yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Mặt khác, tại Công văn số 1418/BHXH-QLT-PTNTG ngày 22/05/2026, Bảo hiểm xã hội thành phố Đ xác định bà Phan Thị H có tham gia bảo hiểm xã hội tại Công ty TNHH Đ từ tháng 07/2009 đến tháng 06/2010, số sổ BHXH 4809021622 đồng thời bà Phan Thị H có quá trình tham gia đóng bảo hiểm xã hội tại Công ty Cổ phần K1 từ tháng 02/2006 đến tháng 05/2010 với số sổ bảo hiểm xã hội là 0406005510. Như vậy, có căn cứ xác định trong khoảng thời gian từ tháng 07/2009 đến tháng 06/2010 bà H cùng lúc tham gia bảo hiểm xã hội tại 02 doanh nghiệp là Công ty TNHH Đ và Công ty Cổ phần K1. Quá trình giải quyết vụ án, bà Phan Thị H, bà Dương Thị N trình bày từ tháng 07/2009 đến tháng 06/2010 bà N làm việc tại Công ty TNHH Đ và bà N mượn chứng minh nhân dân của bà H để giao kết hợp đồng và trực tiếp tham gia lao động tại Công ty TNHH Đ. Do đó, có cơ sở xác định bà H không ký kết hợp đồng lao động và tham gia lao động tại Công ty TNHH Đ từ tháng 07/2009 đến tháng 06/2010. Như vậy, việc bà N ký hợp đồng và tham gia lao động tại Công ty TNHH Đ nhưng với tên bà Phan Thị H là vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 4 Điều 30 Bộ luật lao động nên có cơ sở xác định hợp đồng lao động nêu trên là không có hiệu lực. Bà Phan Thị H yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Phan Thị H và Công ty TNHH Đ (nay là Công ty T) từ tháng 07/2009 đến tháng 06/2010 là vô hiệu do không đúng người tham gia lao động ký kết hợp đồng lao động là có cơ sở cần chấp nhận.

[2.3] Bà Phan Thị H không yêu cầu giải quyết về hậu quả của hợp đồng lao động vô hiệu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Xét thấy ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 4 tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[4] Án phí lao động sơ thẩm: Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên Công ty TNHH Đ phải chịu án phí 300.000 đồng nhưng bà Phan Thị H tự nguyện chịu nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 17/2026/LĐ-ST NGÀY 01/7/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – ĐÀ NẴNG]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 17/2026/LĐ-ST

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng:

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế:

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan