Feel free to go with the truth

Trang chủ / Hành chính / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Bản án về khiếu kiện hành vi hành chính không tiếp nhận hồ sơ xin cấp Giấy CNQSD đất, buộc cấp Giấy CNQSD đất

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Bản án về khiếu kiện hành vi hành chính không tiếp nhận hồ sơ xin cấp Giấy CNQSD đất, buộc cấp Giấy CNQSD đất

 

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về đối tượng khởi kiện: Công văn số 1218/VPĐKĐĐNT-CNNH ngày 09/7/2024 của Văn phòng Đ1 và hành vi của UBND huyện N về việc không cấp Giấy CNQSD đất cho hộ ông Dương Văn T đối với thửa đất số 630, tờ bản đồ số 31 là đối tượng khởi kiện.

[1.2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là: Khiếu kiện hành vi hành chính không tiếp nhận hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Buộc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[1.3] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Công văn số 1218/VPĐKĐĐNT- CNNH ngày 09/7/2024 do Văn phòng Đ1 ban hành và hành vi không cấp Giấy

CNQSD đất cho ông Dương Văn T là do UBND huyện N thực hiện. Căn cứ vào Điều 30, khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính; Thẩm quyền giải quyết vụ án này là của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

[1.4] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 09/10/2024, ông Dương Văn T khởi kiện các hành vi hành chính nêu trên. Căn cứ vào khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn.

[1.5] Về xác định người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Văn phòng Đ1, UBND huyện N, Chủ tịch UBND huyện N, UBND xã N: Căn cứ khoản 3, 4 Điều 59 của Luật Tố tụng hành chính; Điều 5, Điều 23 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ;

Chủ tịch UBND xã V, tỉnh Khánh Hòa là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện N và Chủ tịch UBND huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

– Văn phòng Đ2 là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Văn phòng Đ1.

UBND xã V, tỉnh Khánh Hòa là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của UBND xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

[1.6] Về sự vắng mặt của đương sự: Chủ tịch UBND xã V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích của Văn phòng Đ2 cùng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 157 của Luật Tố tụng hành chính; Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành xét xử vụ án theo quy định.

[1.7] Về việc người khởi kiện rút một phần yêu cầu khởi kiện:

Tại phiên đối thoại ngày 23/12/2025 và tại phiên tòa sơ thẩm, ông Lê Khắc H là người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện xin rút yêu cầu hủy một phần Kết luận thanh tra số 1365/KL-UBND ngày 20/5/2016 của Chủ tịch UBND huyện N về việc thanh tra toàn diện việc quản lý, sử dụng đất tại khu vực đất C, xã N (Cụ thể là rút yêu cầu hủy phần Kết luận thanh tra liên quan đến đất ông Dương Văn T sử dụng tại khu vực C – K). Đối với các yêu cầu khởi kiện khác thì vẫn giữ nguyên.

Căn cứ khoản 1 Điều 173 của Luật Tố tụng hành chính; Việc rút một phần yêu cầu của người khởi kiện là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo quy định của pháp luật.

2. Về nội dung vụ án:

[2.1] Về việc rút yêu cầu hủy một phần Kết luận thanh tra số 1365/KL- UBND ngày 20/5/2016 của Chủ tịch UBND huyện N về việc thanh tra toàn diện việc quản lý, sử dụng đất tại khu vực đất C, xã N (Cụ thể là rút yêu cầu hủy phần Kết luận thanh tra liên quan đến đất ông Dương Văn T sử dụng tại khu vực C – K):

Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy rằng: Việc rút một phần yêu cầu của người

khởi kiện là tự nguyện. Căn cứ khoản 2 Điều 173 của Luật Tố tụng hành chính; Hội đồng xét xử sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của ông Dương Văn T.

[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn T về việc yêu cầu hủy Văn bản số 1218/VPĐKĐĐNT-CNNH ngày 09/7/2024 của Văn phòng Đ1 về việc chuyển trả hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Dương Văn T, tại xã N:

[2.2.1] Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:

Ngày 29/3/2004, Chủ tịch UBND tỉnh N ban hành Quyết định số 1712/QĐ về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Dương Văn T đang sử dụng xã N giao cho UBND huyện N để làm khu dân cư thôn K, xã Nn Hải. Thửa đất thu hồi là thửa đất số 3, tờ bản đồ trích đo có diện tích 339 m², hiện trạng sử dụng là đất nông nghiệp trồng cây màu. Tại Quyết định số 1712/QĐ đã thể hiện rõ hộ ông Dương T (Dương Văn T) là người đang sử dụng đất tại thời điểm thu hồi năm 2004.

Tại mục 2 Điều 1 của Quyết định số 1712/QĐ có nêu “Nội dung tại mục 1 nói trên được xác định hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm lập hồ sơ thu hồi…”.

Ngày 15/7/2016, Chủ tịch UBND tỉnh N ban hành Quyết định số 254/QĐ- UBND hủy Quyết định thu hồi đất số 1712/QĐ ngày 29/3/2004, với lý do: “Dự án khu dân cư thôn K, xã N, huyện N đã được quy hoạch từ năm 2003, nhưng đến nay đã 13 năm không triển khai thực hiện (theo quy định tại khoản 3 Điều 49 Luật đất đai năm 2013)”.

Tại Điều 2 của Quyết định số 254/QĐ-UBND có nêu “Giao UBND huyện N thông báo cho hộ ông Dương T được biết, đồng thời hướng dẫn hộ ông T sử dụng đất đúng quy định của pháp luật đất đai hiện hành”.

Thấy rằng: Tại thời điểm thu hồi đất, Chủ tịch UBND tỉnh N xác định hộ ông Dương Văn T là người đang sử dụng đất, đến khi có quyết định hủy bỏ quyết định thu hồi đất thì giao lại cho hộ ông Dương Văn T tiếp tục sử dụng đất, chứ không hề giao cho UBND xã N quản lý.

Từ những chứng cứ nêu trên; có cơ sở khẳng định hộ gia đình ông Dương Văn T có hộ khẩu thường trú tại địa phương, đã sử dụng thửa đất số 3, tờ bản đồ trích đo xã N, diện tích 339 m² từ trước ngày 01/7/2004, là người sử dụng đất tại thời điểm Nhà nước thu hồi đất vào ngày 29/3/2004, được ghi nhận trong Bản đồ địa chính năm 2005, Sổ mục kê năm 2005.

[2.2.2] Về việc UBND xã N xác nhận nguồn gốc, hiện trạng sử dụng và quyền quản lý, sử dụng đất của hộ ông Dương Văn T:

Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy rằng:

Tháng 6/2024, ông Dương Văn T có đơn đăng ký xin cấp Giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa số 630, tờ bản đồ 31, diện tích 427 m² tại thôn K, xã N.

Ngày 17/6/2024, UBND xã N xác nhận: “Nội dung kê khai so với hiện trạng: Đất trống; Nguồn gốc sử dụng đất: Đất công do UBND xã quản lý, theo phụ lục số 04 của Kết luận thanh tra số 1365/KL-UBND ngày 20/5/2016 của Chủ tịch UBND huyện N thì diện tích 427 m² ông Dương Văn T đăng ký cấp giấy là đất công do UBND xã quản lý; Thời điểm sử dụng đất vào mục đích đăng ký: Đất công; Tình trạng tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất: Đất đang tranh chấp”. Sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng: Nội dung này UBND xã N để trống không xác nhận.

Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/10/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xác định hiện trạng trên thửa đất số 630, tờ bản đồ số 31 xã N, có 01 ngôi nhà cấp 4, 02 cây dừa, 01 cây sung, 01 cây si và theo Trích lục số 472 ngày 02/12/2025 của Văn phòng Đ2 – Chi nhánh Văn phòng Đ3 thì đất số 630, tờ bản đồ số 31 xã N có diện tích 431,3 m².

Việc UBND xã N xác nhận nguồn gốc sử dụng đất là đất công do UBND xã quản lý nhưng UBND xã N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ; chứng minh về việc UBND xã N đã được chuyển giao quyền quản lý, sử dụng thửa đất 630, tờ bản đồ 31. Nên nội dung xác nhận như trên là không đúng. Việc UBND xã N xác nhận “đất đang tranh chấp”. Xét thấy: Theo quy định tại khoản 24 Điều 3 của Luật đất đai năm 2013 thì: “Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai”. Việc ông Dương Văn T yêu cầu cấp Giấy CNQSD đất nhưng Nhà nước không đồng ý vì cho rằng thửa đất số 630, tờ bản đồ số 31 là đất công, do UBND xã N quản lý. Đây là hoạt động quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đất đai, không phải là tranh chấp đất đai. Việc UBND xã N xác nhận đất đang tranh chấp là không đúng.

[2.2.3] Về sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng:

Thấy rằng: UBND xã N không xác nhận nội dung này. Tuy nhiên, theo Quyết định số 371/QĐ-UBND ngày 28/6/2022 của UBND tỉnh N về việc Phê duyệt quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030 huyện N thì thửa đất 630, tờ bản đồ 31 xã N được quy hoạch là đất ở nông thôn (ONT). Việc Văn phòng Đ1 – Chi nhánh N căn cứ vào xác nhận của UBND xã N và Kết luận thanh tra số 1365/KL-UBND ngày 20/5/2016 của Chủ tịch UBND huyện N để ban hành Văn bản số 1218/VPĐKĐĐNT-CNNH ngày 09/7/2024 chuyển trả hồ sơ xin cấp Giấy CNQSD đất của ông Dương Văn T đối với thửa đất số 630, tờ bản đồ số 31 xã N là không đúng pháp luật.

Từ những phân tích và tài liệu, chứng cứ nêu trên, việc ông Dương Văn T

yêu cầu hủy Văn bản số 1218/VPĐKĐĐNT-CNNH ngày 09/7/2024 của Văn phòng Đ1 về việc chuyển trả hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Dương Văn T là có cơ sở, được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận.

[2.3] Xét yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn T về việc buộc UBND huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Chủ tịch UBND xã V, tỉnh Khánh Hòa) cấp Giấy CNQSD đất cho hộ gia đình ông Dương Văn T đối với thửa đất số 630, tờ bản đồ số 31 xã N, diện tích 431,3 m²:

Hội đồng xét xử sơ thẩm thấy rằng:

[2.3.1] Bản án số 926/2022/HC-PT ngày 28/11/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án “Khiếu kiện yêu cầu buộc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” giữa những người khởi kiện (bà Nguyễn Thị B, ông Dương Văn T, ông Nguyễn L1, ông Lê Văn C1, bà Dương Thị M, bà Đinh Thị H2) với người bị kiện là UBND huyện N và Chủ tịch UBND huyện N đã nhận định:

Nguồn gốc và quá trình sử dụng đất của ông Dương Văn T đối với thửa số 385, tờ bản đồ số 31, diện tích 425,3 m² (tách từ một phần thửa 143) là căn cứ vào Quyết định số 1712/QĐ ngày 29/3/2004 của Chủ tịch UBND tỉnh N về việc thu hồi đất do hộ ông Dương T (Dương Văn T) đang sử dụng tại xã N giao cho UBND huyện N để làm khu dân cư thôn K, xã N. Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn T, buộc UBND huyện N lập trình tự, thủ tục cấp Giấy CNQSD đất cho ông T đối với thửa số 385 (tách từ một phần thửa 143) diện tích 425,3 m². Đến nay, ông T đã được UBND huyện N cấp Giấy CNQSD đất số CH 123846 ngày 30/01/2024 đối với thửa số 385, tờ bản đồ số 31, diện tích 425,3 m².

Tuy nhiên, tài liệu có trong hồ sơ vụ án hiện nay thể hiện: Thửa đất số 385, tờ bản đồ số 31, diện tích 425,3 m² và thửa đất số 630, tờ bản đồ số 31, diện tích 431,3 m² là chung 01 thửa số 143 trước đây, do hộ ông Dương Văn T quản lý, sử dụng.

Theo bản đồ trích đo thửa đất ban hành kèm theo Quyết định thu hồi đất thì: Thửa đất số 385, tờ bản đồ số 31 hiện nay, tương ứng với thửa đất số 3a tại Quyết định số 1713/QĐ ngày 29/3/2004 của Chủ tịch UBND tỉnh N ban hành về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Nguyễn Đ đang sử dụng xã N giao cho UBND huyện N để làm khu dân cư thôn K, xã N; thửa đất thu hồi có diện tích 978 m², hiện trạng sử dụng là đất nông nghiệp trồng cây màu (Thửa đất này vào ngày 17/8/2014, con ông Nguyễn Đ đã bán cho ông Dương Văn T). Việc nhầm lẫn này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn T, buộc UBND huyện N cấp Giấy CNQSD đất cho ông Dương Văn T đối với thửa

số 385, tờ bản đồ số 31 có diện tích 425,3 m² (tách từ một phần thửa đất số 143) là phù hợp.

[2.3.2] Về thửa đất số 630, tờ bản đồ số 31, hiện nay có diện tích 431,3 m², tương ứng với thửa số 3 tại Quyết định số 1712/QĐ ngày 29/3/2004 của Chủ tịch UBND tỉnh N về việc thu hồi đất của hộ gia đình ông Dương Văn T đang sử dụng xã N giao cho UBND huyện N để làm khu dân cư thôn K, xã N (Thửa đất số 3 có diện tích 339 m²) hiện trạng sử dụng là đất nông nghiệp trồng cây màu.

Do đó, căn cứ để xác định nguồn gốc thửa đất số 630, tờ bản đồ số 31, diện tích 431,3 m² là theo Quyết định số 1712/QĐ ngày 29/3/2004 của Chủ tịch UBND tỉnh N ban hành về việc thu hồi đất do hộ ông Dương T (Dương Văn T) đang sử dụng tại xã N giao cho UBND huyện N để làm khu dân cư thôn K, xã N (Tương ứng thửa số 3, tờ bản đồ trích đo kèm theo Quyết định số 1712/QĐ ngày 29/3/2004).

[2.3.3] Về điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

Điều 101 của Luật đất đai năm 2013 quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất như sau: “2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”.

Điểm a khoản 2 Điều 70 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định như sau: “2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam đề nghị đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ và thực hiện các công việc như sau:

a) Trường hợp đăng ký đất đai thì xác nhận hiện trạng sử dụng đất so với nội dung kê khai đăng ký; trường hợp không có giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này thì xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch…”.

Từ những căn cứ nêu trên, có cơ sở xác định, hộ gia đình ông Dương Văn T là người có hộ khẩu thường trú tại địa phương, trực tiếp sản xuất nông nghiệp,

đã sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01/7/2004 và không vì phạm pháp luật về đất đai, có tên trong bàn đồ địa chính, số mục kê, sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của địa phương nên đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 101 Luật đất đai năm 2013 (Nay là Điều 138 của Luật đất đai năm 2024).

Theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 136 Luật đất đai năm 2024; Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì “UBND cấp huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 4 của Luật này”. Tuy nhiên, theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 5 Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 của Chính phủ thì Thẩm quyền của UBND cấp huyện theo quy định của Luật Đất đai năm 2024 được chuyển giao cho Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện “h) Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất quy định tại điểm b khoản 1 Điều 136 và điểm d khoản 2 Điều 142 Luật Đất đai”.

Từ những phân tích và căn cứ nêu trên, việc ông Dương Văn T yêu cầu buộc UBND huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Nay là Chủ tịch UBND xã V, tỉnh Khánh Hòa) cấp Giấy CNQSD đất cho gia đình ông T đối với thửa đất số 630 tờ bản đồ số 31 xã N, diện tích 431,3 m² là có cơ sở, được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận.

[3] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử sơ thẩm nên được chấp nhận.

[4] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn T được chấp nhận. Lẽ ra, Chủ tịch UBND xã V, tỉnh Khánh Hòa (Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện N, Chủ tịch UBND huyện N, tỉnh Ninh Thuận) và Văn phòng Đ2 (Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Văn phòng Đ1) phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và trích lục bản đồ địa chính với số tiền là 2.864.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện đồng ý chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và trích lục bản đồ địa chính. Đây là sự tự nguyện của người khởi kiện nên được Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận. Do đó, Chủ tịch UBND xã V, tỉnh Khánh Hòa và Văn phòng Đ2 không phải chịu chi phí tố tụng. Ông Dương Văn T đã nộp đủ chi phí tố tụng.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của ông Dương Văn T được chấp nhận. Vì vậy, Chủ tịch UBND xã V, tỉnh Khánh Hòa (Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của UBND huyện N, Chủ tịch UBND huyện N, tỉnh Ninh Thuận) và Văn phòng Đ2 (Kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Văn phòng Đ1), mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 11/2026/HC-ST NGÀY 4/02/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 11/2026/HC-ST

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan