
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương rút toàn bộ Quyết định kháng nghị số 07/QĐ-VKS-DS ngày 01/11/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng. Vì vậy, đình chỉ xét xử phúc thẩm một phần vụ án mà Viện Kiểm sát đã rút kháng nghị là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 284 và khoản 2 Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: ông Võ Hữu D, bà Võ Thị Mai H6, Võ Thị Thanh L2 và bà Võ Thanh X có đơn xin xét xử vắng mặt; bà Nguyễn Thị T4 và bà Nguyễn Thị Thu H1 đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung: Khu đất có diện tích 1.052m2 , đo đạc thực tế 1.040m2 (trong đó có 300m2 đất ở và 740m2 đất cây lâu năm) thuộc thửa đất số 207, tờ bản đồ 39 tại ấp C, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc do bà Huỳnh Thị K nhận chuyển nhượng lại của bà Tống Kim T6 vào tháng 10/1991, tại thời điểm bà K nhận chuyển nhượng đất, ông Võ Văn B đã bỏ nhà ra đi sống với người phụ nữ khác. Năm 1993, bà Huỳnh Thị K được Ủy ban nhân dân huyện B (nay là huyện D) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 1998, bà K được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đến năm 2003, bà Huỳnh Thị K được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần 3 từ quyền sử dụng đất mang tên cá nhân bà K sang cấp cho hộ gia đình bà Huỳnh Thị K theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00704 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 17/4/2003, diện tích 1.052m2 gồm 300m2 đất ONT và 752m2 đất CLN. Tài sản gắn liền với đất gồm có 01 nhà cấp 4, diện tích xây dựng 85,4m2 và một số công trình phụ trợ như hàng rào lưới B40 và trụ bê tông. Quá trình tố tụng các đương sự xác định không tranh chấp ngôi nhà cấp 4 và tài sản trên đất. Quá trình tố tụng, cả nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xác định tài sản tranh chấp là tài sản riêng do bà K tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với ông Võ Văn B còn tồn tại nhưng ông B đã bỏ đi sống với người phụ nữ khác trước khi bà K mua đất vào năm 1991. Nguyên đơn ông Phạm Quốc C khởi kiện yêu cầu tuyên bố di chúc của bà Huỳnh Thị K lập ngày 19/5/2003 tại Ủy ban nhân dân xã L về việc chỉ định người thừa kế theo di chúc là ông Phạm Quốc C tài sản là quyền sử dụng khu đất 1.052m2 nói trên cùng căn nhà cấp 4 diện tích 32m2 trên đất sau khi cụ K chết là di chúc có hiệu lực, đồng thời yêu cầu bị đơn ông Võ Văn T2 có nghĩa vụ giao trả quyền sử dụng diện tích đất 1.052m2 (đo thực tế 1.040m2 ) cho nguyên đơn quản lý, sử dụng. Quá trình tố tụng, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần 14 tài sản trên đất gồm: ngôi nhà cấp 4, diện tích 85,4m2 hàng rào lưới B40, trụ bê tông. Bị đơn ông Võ Văn T2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Khương T3 (vợ ông T2) yêu cầu: tuyên bố di chúc lập ngày 19/5/2003 của cụ Huỳnh Thị K tại Ủy ban nhân dân xã L vô hiệu, lý do tài sản là quyền sử dụng đất 1.052m2 bà K định đoạt trong di chúc nói trên là tài sản chung của hộ gia đình bà K gồm có 03 thành viên trên 15 tuổi tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (174/2003) là bà Huỳnh Thị K, ông Võ Văn T2 và bà Huỳnh Thị Khương T3. Ông T2, bà T3 yêu cầu chia tài sản chung là quyền sử dụng đất nói trên cho 03 thành viên trong hộ gia đình và ông T2, bà T3 được hưởng 1.040m2 : 3 = 346,66m2 x 2 = 693,32m2 . Diện tích còn lại 346,66m2 là di sản của bà K được chia cho những người thừa kế của bà K. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Hữu D yêu cầu tuyên bố di chúc ngày 19/5/2003 của bà K vô hiệu. Yêu cầu chia thừa kế của bà K là quyền sử dụng đất 1.040m2 chia bằng hiện vật cho ông D ¼ bằng 260m2 . Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Võ Thị G, bà Võ Thị Cẩm H yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
[4] Nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng như sau:
[4.1] Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng bỏ sót người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết vụ án nêu trên. Cụ thể, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng nhận định tài sản tranh chấp là khu đất có diện tích 1.040m2 (diện tích thực tế) thuộc thửa 207, tờ bản đồ 39 tại ấp C, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00704 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 17/4/2003 cho hộ bà Huỳnh Thị K. Theo Giấy xác nhận số 273/GXHK-CAH ngày 14/5/2021 của Công an huyện D xác nhận từ ngày 23/6/1995 đến nay hộ gia đình bà Huỳnh Thị K có 06 thành viên gồm: bà Huỳnh Thị K, sinh năm 1936, ông Võ Văn T2, sinh năm 1966, bà Huỳnh Thị Khương T3, sinh năm 1969, ông Võ Nguyên T9, sinh năm 1990, ông Võ Nguyên T10, sinh năm 1996 và ông Võ Nguyên T11, sinh năm 2001. Tại thời điểm thụ lý vụ án và xét xử sơ thẩm ông T9, ông T10, ông T11 đều đã trên 18 tuổi nhưng cấp sơ thẩm không đưa ông T9, ông T10, ông T11 vào tham gia tố tụng để xác định yêu cầu của họ về quyền lợi, nghĩa vụ của ông T9, ông T10, ông T11 đối với quyền sử dụng đất 1.040m2 , ngôi nhà cấp 4 trên đất 85,4m2 và tài sản khác gắn liền với thửa đất tranh chấp như thế nào là thuộc trường hợp bỏ sót người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là thiếu sót, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm mất quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông T9, ông T10 và ông T11.
[4.2] Vi phạm về thủ tục tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự: Tại Thông báo số định danh cá nhân và thông tin công dân trong cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư của Công an phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1941, con ông Mai Văn Đ1 và bà Hà Thị C2 có nơi thường trú tại khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương nhưng nơi ở hiện tại của bà T4 tại nhà số F đường số A, khu phố B, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Quá trình tố tụng, Tòa cấp sơ thẩm không thực hiện việc triệu tập bà T4 hoặc ủy thác cho Tòa án nhân dân 15 thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành lấy lời khai của bà T4 để xác định mối quan hệ giữa bà T4 và ông Võ Văn B, mối quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Thu H1 và bà T4 và ông B ra sao nhưng Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng lại niêm yết các thông báo tố tụng cho bà T4 tại địa chỉ khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương là thực hiện việc tống đạt chưa đúng theo quy định tại Điều 179 của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng tại mục [3] của Bản án sơ thẩm số 209/2024/DS-ST ngày 18/10/2024 lại nhận định bà T4 đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng đối với vụ án (đoạn 10 trang 12) là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Tuyết .
[4.3] Ngoài ra, tại Bản án phúc thẩm số 384/2023/DS-PT, ngày 14/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã nhận định: “Tòa án sơ thẩm nhận định ông B bỏ nhà đi từ năm 1989 nên đất tranh chấp là tài sản riêng của bà K và công nhận hiệu lực di chúc là chưa đủ căn cứ. Do đó, cần điều tra làm rõ các vấn đề nêu trên và đưa người thừa kế của ông B tham gia tố tụng (nếu có). Trường hợp không thu thập được chứng cứ về người thừa kế khác của ông B, thì cần phải thông báo vụ án này trên phương tiện thông tin đại chúng về ông Võ Văn B”. Quá trình thụ lý giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm, Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng chưa thực hiện nội dung sai sót đã được Tòa án cấp phúc thẩm trước đây chỉ ra, cụ thể chưa điều tra thu thập chứng cứ xác định về nhân thân và mối quan hệ huyết thống của ông Võ Văn B để xác định đúng người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là ông Võ Văn B là cần thiết.
[5] Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, hủy bản án dân sự sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng thụ lý, giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Việc hủy án sơ thẩm do cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét về nội dung đánh giá chứng cứ của cấp sơ thẩm.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 259/2025/DS-PT NGÀY: 05-05-2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 259/2025/DS-PT NGÀY: 05-05-2025
…………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn