Feel free to go with the truth

Trang chủ / Hình sự / Chuyển hóa tội phạm trong một số trường hợp

Chuyển hóa tội phạm trong một số trường hợp

  1. Khái quát về chuyển hóa tội phạm

Pháp luật hình sự Việt Nam không có điều luật riêng quy định trực tiếp về chuyển hóa tội phạm. Tuy nhiên, đây là một hiện tượng thực tiễn thường gặp và được thừa nhận trong thực tiễn xét xử, dựa trên nguyên tắc xác định tội danh theo hành vi khách quan đã thực hiện. Có thể hiểu chuyển hóa tội phạm là khái niệm dùng để chỉ trường hợp tội phạm đang trong quá trình thực hiện nhưng chưa hoàn thành tội phạm đó, tức là vẫn chưa có đủ các dấu hiệu để hình thành tội phạm đó thì có sự thay đổi, chuyển biến về mặt hành vi (khách quan) hay có cả sự biến chuyển về mặt hành vi lẫn mục đích của tội phạm (cả khách quan lẫn chủ quan), làm cho tội phạm ban đầu chuyển hóa thành tội phạm khác và tội phạm khác ấy được hoàn thành, tức là đủ các dấu hiệu cơ bản để hoàn thành tội phạm.

Bản chất của chuyển hóa tội phạm là sự thay đổi của ngoại cảnh, mục đích, ý chí hay sự thay đổi từ ý định ban đầu sang hành vi thực tế dẫn đến các tội phạm cũng thay đổi theo. Tùy theo các kiểu thay đổi khác nhau sẽ dẫn đến các chuyển hóa khác nhau. Ví dụ từ tội trộm tài sản sẽ có thể chuyển hóa thành tội cướp tài sản hoặc tội cố ý gây thương tích tùy vào ý chí của riêng người phạm tội trong thời điểm đó.

Chuyển hóa tội phạm là một khái niệm quan trọng trong luật hình sự và tội phạm học, phản ánh quá trình biến đổi của hành vi phạm tội theo nhiều khía cạnh khác nhau. Ý nghĩa của chuyển hóa tội phạm có thể được phân tích từ các góc độ pháp lý, thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm và chính sách hình sự.

Vấn đề chuyển hóa tội phạm có một số đặc điểm sau:

Phải bắt đầu từ một hành vi có dấu hiệu của một tội phạm: Người phạm tội phải bắt đầu thực hiện một hành vi có dấu hiệu cấu thành tội phạm, nhưng sau đó hành vi này tiếp tục phát triển hoặc thay đổi, dẫn đến một tội phạm khác;

Tội danh sau có thể có có tính chất nghiêm trọng hơn tội danh ban đầu.

Chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự theo tội danh sau cùng: Người phạm tội không bị xét xử về cả hai tội danh, mà chỉ chịu trách nhiệm về tội sau – tức tội đã được hoàn thành.

Chuyển hóa có thể mang tính chủ quan hoặc khách quan: Có thể do ý chí của người phạm tội thay đổi, hoặc do tình huống khách quan thúc đẩy hành vi phát triển sang tội phạm khác.

  1. Một số vấn đề về chuyển hóa tội danh trong áp dụng pháp luật hình sự

Trên thực tế, vấn đề chuyển hóa tội phạm thường diễn ra đối với loại tội phạm xâm phạm sở hữu như tội Trộm cắp tài sản chuyển hóa thành Cướp tài sản; hay từ Trộm cắp tài sản chuyển hóa thành Cưỡng đoạt tài sản; Cướp giật tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản chuyển thành Cướp tài sản…

Một là, về cơ sở pháp lý của chuyển hóa tội danh

Hiện nay pháp luật chưa có quy định cụ thể nào về chuyển hóa tội danh, tuy nhiên việc xác định chuyển hóa tội danh được hướng dẫn trong nhiều văn bản dưới luật khác nhau. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ ngày 19/4/1989 (hiện nay đã hết hiệu lực) về áp dụng một số quy định của BLHS thì việc chuyển hóa tội phạm quy định như sau: “Thực tiễn xét xử cho thấy các Tòa án đã định tội không thống nhất đối với các trường hợp kẻ phạm các tội chiếm đoạt tài sản (như cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp, lừa đảo) đã dùng bạo lực để chiếm đoạt cho bằng được tài sản định chiếm đoạt hoặc để tẩu thoát. Nhiều Tòa án đã coi mọi trường hợp nói trên là cướp tài sản… ngược lại có Tòa án chỉ coi việc dùng bạo lực là tình tiết tăng nặng của việc chiếm đoạt chứ không kết án kẻ phạm tội về tội cướp tài sản…

Nay cần thống nhất như sau:

a) Nếu là trường hợp do chưa chiếm đoạt được tài sản mà kẻ phạm tội dùng vũ lực hay đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực để chiếm đoạt tài sản cho bằng được thì cần định tội là cướp tài sản…

b) Nếu là trường hợp kẻ phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản rồi, nhưng chủ tài sản họăc người khác đã lấy lại được tài sản đó hoặc đang giành giật tài sản còn ở trong tay kẻ phạm tội, mà kẻ phạm tội dùng vũ lực, hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực để chiếm đoạt tài sản cho bằng được, thì cần định tội là cướp tài sản…

Đối với các trường hợp trên đây chỉ cần kết án kẻ phạm tội về một tội là cướp tài sản… và coi việc chiếm đoạt (chưa thành hoặc đã thành) trước khi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng ngay tức khắc vũ lực là tình tiết diễn biến của tội phạm…”

Theo hướng dẫn tại Mục 6 Phần I Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP (hiện nay đã hết hiệu lực) quy định về tình tiết “Hành hung để tẩu thoát” của tội trộm cắp tài sản như sau: Khi áp dụng tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 137; điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS) cần chú ý:

…6.2. Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là “hành hung để tẩu thoát” mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản”.

Như vậy, thời điểm hoàn thành việc chiếm đoạt thông thường được xác định là rời khỏi ý thức của người quản lý tài sản là hoàn thành. Có thể thấy, trong trường hợp này, người phạm tội đã thực hiện một hành vi chiếm đoạt tài sản, có thể chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản. Như vậy, hành vi này đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm về mặt pháp lý. Nhưng đã bị người bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là “hành hung để tẩu thoát” mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản. Hay nói cách khác, tội danh lúc này đã được chuyển hóa từ tội danh ban đầu sang tội cướp tài sản

Ví dụ: A lẻn vào nhà B ban đêm để trộm. Khi đang lấy tài sản thì bị B phát hiện, A đã dùng dao khống chế B giữ lại tài sản chiếm đoạt và tẩu thoát. Khi đó, hành vi không còn là trộm cắp nữa mà đã chuyển hóa thành cướp tài sản bởi thời điểm B phát hiện là khi A vẫn đang ở trong nhà B và tài sản chiếm đoạt vẫn đang còn ở trong nhà thuộc quyền quản lý của B và B vẫn có khả năng giành lại được tài sản, chưa hoàn toàn mất tài sản tức là dấu hiệu chiếm đoạt của A chưa hoàn thành. Như vậy hành vi dùng dao khống chế B của A mục đích là giữ tài sản chiếm đoạt để thoát ly khỏi sự kiểm soát của chị B là dấu hiệu của tội cướp tài sản.

Hai là, phân biệt chuyển hóa tội danh với tình tiết hành hung để tẩu thoát

Theo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP, để phân biệt chuyển hóa tội danh với tình tiết hành hung để tẩu thoát, cần dựa vào những căn cứ sau:

(i) Chuyển hóa tội danh phải có dấu hiệu giành lại tài sản giữa người phạm tội với người bị hại hoặc người khác. Hành hung để tẩu thoát thì không có dấu hiệu giành lại tài sản.

(ii) Chuyển hóa tội danh là trường hợp phạm tội độc lập, tội danh được thay đổi sang tội danh mới, tội danh cũ mất đi. Hành hung để tẩu thoát là một tình tiết định khung hình phạt, không cấu thành tội mới.

(iii) Mục đích của người phạm tội trong chuyển hóa tội danh khi thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản. Mục đích của người có hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã… trong hành hung để tẩu thoát là nhằm tẩu thoát chứ không nhằm chiếm đoạt cho được tài sản.

Ba là, một số điểm cần chú ý trong trường hợp chuyển hóa tội danh

(i) Trong trường hợp người phạm tội dùng vũ lực tấn công người bị hại hoặc người khác khiến người đó chết hoặc gây thương tích cho họ nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì tùy từng trường hợp xem xét truy cứu trách nhiệm theo nguyên tắc phạm nhiều tội hoặc thêm những tình tiết định khung tăng nặng khác.

(ii) Cần phân biệt giữa trường hợp chuyển hóa tội danh trong luật hình sự với trường hợp thay đổi tội danh trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự. Bản chất của trường hợp chuyển hóa tội danh trong luật hình sự là trường hợp định tội danh theo hành vi phù hợp theo hành vi phạm tội đã được thực hiện. Đối với trường hợp thay đổi tội danh trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự được quy định tại Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, theo đó: “Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra; ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự khi có căn cứ xác định còn tội phạm khác chưa bị khởi tố”. Với quy định này, khi có căn cứ xác định tội danh đã khởi tố không đúng, cơ quan có thẩm quyền đã khởi tố phải ra quyết định thay đổi quyết định đã khởi tố trước đó. Như vậy, bản chất của hai trường hợp này là hoàn toàn khác nhau.

  1. Ý nghĩa thực tiễn của việc xác định chuyển hóa tội phạm

Việc xác định đúng hiện tượng chuyển hóa tội phạm có ý nghĩa quan trọng đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, vì:

Tránh truy cứu nhiều lần về cùng một hành vi: Giúp phân biệt rạch ròi giữa chuyển hóa và phạm nhiều tội, đảm bảo nguyên tắc không ai bị kết án hai lần về cùng một hành vi.

Đảm bảo truy tố đúng người, đúng tội: Việc hiểu rõ bản chất hành vi giúp đưa ra tội danh phản ánh đúng mức độ nguy hiểm cho xã hội, từ đó quyết định hình phạt phù hợp.

Định hướng chính sách hình sự và phòng ngừa: Nhận diện các tình huống dễ xảy ra chuyển hóa giúp cơ quan chức năng tăng cường biện pháp phòng ngừa, đặc biệt trong các tình huống dễ leo thang hành vi bạo lực.

Chuyển hóa tội phạm là một hiện tượng pháp lý quan trọng, phản ánh sự phát triển trong hành vi phạm tội từ tội ít nghiêm trọng sang tội nghiêm trọng hơn. Mặc dù không được quy định trực tiếp trong Bộ luật Hình sự, nhưng qua thực tiễn tố tụng và xét xử, việc nhận diện và xử lý đúng các trường hợp chuyển hóa tội phạm đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm công lý hình sự. Các cơ quan tiến hành tố tụng cần có sự quan sát toàn diện, đánh giá kỹ lưỡng các dấu hiệu khách quan và chủ quan để xác định chính xác tội danh, từ đó bảo đảm tính nghiêm minh và công bằng của pháp luật.

Luật sư Phạm Thảo – Công ty Luật FDVN

……………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Phước Ninh, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, quận Thuận Hoá, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường 6, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Star Tower, số 68 Dương Đình Nghệ, phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Vinh Tân, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan