
Trong thực tiễn giao dịch dân sự tại Việt Nam, việc một người bỏ tiền tạo lập tài sản nhưng để người khác đứng tên không còn là hiện tượng hiếm gặp. Từ quyền sử dụng đất, nhà ở, cổ phần doanh nghiệp cho đến xe ô tô, tài khoản ngân hàng hay các loại tài sản có giá trị khác, việc “đứng tên hộ” xuất hiện dưới nhiều hình thức và vì nhiều lý do khác nhau. Có trường hợp xuất phát từ sự tin tưởng giữa các thành viên gia đình; có trường hợp nhằm đáp ứng điều kiện pháp lý của giao dịch; cũng có trường hợp được sử dụng như một công cụ để che giấu chủ thể thực sự của tài sản.
Vấn đề chỉ thực sự phát sinh khi quan hệ giữa các bên không còn tốt đẹp hoặc khi tài sản gia tăng đáng kể về giá trị. Lúc này, câu hỏi được đặt ra trước Tòa án là: ai mới là chủ sở hữu thực sự của tài sản? Người đứng tên trên giấy chứng nhận hay người đã bỏ tiền tạo lập tài sản?
Đây là một dạng tranh chấp đặc biệt bởi nó nằm ở ranh giới giữa hai nguyên tắc pháp lý quan trọng: nguyên tắc tôn trọng sự ổn định của đăng ký tài sản và nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu thực chất.
- Đặt vấn đề
Điều đáng chú ý là pháp luật dân sự hiện hành chưa có bất kỳ quy định nào định nghĩa hoặc điều chỉnh trực tiếp quan hệ “đứng tên hộ”.
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định khá đầy đủ về quyền sở hữu, đại diện, ủy quyền, giao dịch giả tạo, nghĩa vụ dân sự và các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu. Tuy nhiên, không có điều khoản nào giải thích thế nào là đứng tên hộ, điều kiện xác lập quan hệ này ra sao và hậu quả pháp lý sẽ được xử lý như thế nào khi tranh chấp xảy ra.
Chính khoảng trống này khiến việc giải quyết tranh chấp hoàn toàn phụ thuộc vào hoạt động giải thích pháp luật và đánh giá chứng cứ của Tòa án.
Trong khi đó, trên thực tế, quan hệ đứng tên hộ lại mang tính phổ biến đáng kể. Nhiều người dân vẫn có suy nghĩ đơn giản rằng người bỏ tiền đương nhiên là chủ sở hữu tài sản, bất kể tài sản đang đứng tên ai. Ngược lại, hệ thống đăng ký tài sản lại được xây dựng trên nguyên tắc người được Nhà nước công nhận trên giấy tờ là người có quyền đối với tài sản. Sự xung đột giữa hai cách tiếp cận này chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến hàng loạt tranh chấp kéo dài trong nhiều năm qua.
- Thực tiễn giải quyết các tranh chấp đứng tên hộ tài sản
Một quan điểm từng tồn tại khá phổ biến trong thực tiễn là người đứng tên trên giấy chứng nhận đương nhiên được xác định là chủ sở hữu hoặc chủ sử dụng hợp pháp của tài sản. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thực tiễn xét xử, quan điểm này đang dần thay đổi. Các vụ án trên thực tế, Tòa án ngày càng có xu hướng nhìn nhận giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản không phải là căn cứ duy nhất để xác định chủ thể quyền. Bản thân giấy chứng nhận chỉ là một loại chứng cứ quan trọng, nhưng không phải là chứng cứ tuyệt đối.
Trong nhiều vụ án, người đứng tên trên giấy tờ không chứng minh được nguồn gốc hình thành tài sản, không có khả năng tài chính tương ứng với giá trị tài sản, không trực tiếp quản lý hoặc khai thác tài sản trong thời gian dài. Ngược lại, người khởi kiện lại xuất trình được chứng từ thanh toán, chứng cứ về việc quản lý sử dụng tài sản và các tài liệu thể hiện ý chí thực sự của các bên ngay từ thời điểm xác lập giao dịch.
Trong những trường hợp như vậy, việc chỉ căn cứ vào hình thức đăng ký để xác định quyền sở hữu sẽ dẫn đến kết quả thiếu công bằng và có nguy cơ hợp thức hóa hành vi chiếm đoạt tài sản của người đứng tên hộ.
Do đó, thực tiễn xét xử hiện nay cho thấy Tòa án thường lựa chọn cách tiếp cận đi tìm bản chất thực sự của giao dịch thay vì chỉ dừng lại ở hình thức pháp lý bên ngoài.
Ví dụ: Bản án 466/2019/DSPT ngày 08/10/2019 về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh
“Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì đất tranh chấp có nguồn gốc do bà Th nhận chuyển nhượng của bà Ngô Thị Thủy Th với giá 340 chỉ vàng 24k và được đăng ký biến động, sang tên cho bà Trương Thị Th ngày 02/7/2000.
Năm 2004 khi sang Mỹ định cư bà Th có nhờ em ruột là bà Trương Thị H đứng tên giùm quyền sử dụng đất nêu trên theo văn bản thỏa thuận được UBND phường Vĩnh Quang xác nhận vào ngày 03/11/2004 (BL.35) nên bà Hoa đã làm thủ tục và đứng tên theo đăng ký biến động ngày 2/11/2004.
Đến năm 2008 bà Hoa đi Mỹ định cư, bà Th yêu cầu bà Hoa chuyển QSD đất cho em ruột là ông Trương Tấn Q đứng tên hộ QSD đất nêu trên. Theo đó ông Q có làm đơn được xác nhận tại UBND phường Vĩnh Quang ngày 8/1/2008, nên ông Q với bà Hoa làm thủ tục tặng cho, đăng ký biến động ngày 8/1/2008 (BL.34) Sau đó, ngày 13/1/2015 ông Q làm thủ tục cớ mất giấy chứng nhận nên UBND thành phố Rạch Giá đã hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 5301020720 ngày 26/9/1999 theo Quyết định số 95/QĐ- UBND ngày 20/4/2015 và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số BY 645194 ngày 20/4/2015 của UBND thành phố Rạch Giá.
Ngày 29/02/2016 ông Q lập hợp đồng tặng cho nhà đất cho vợ là bà Trương Thị Ph tại Văn Phòng Công chứng Kiên Giang nhưng ngày 28/4/2016 Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Rạch Gía không đồng ý lập thủ tục tặng cho giữa ông Q với bà Phụng với lý do giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 5301020720 ngày 26/9/1999 đã bị hủy.
Mặc dù ông Q không thừa nhận đứng tên giùm nhưng nhưng lời khai của bà Hoa, bà Thành, bà Phụng là phù hợp với thỏa thuận về việc đứng tên giùm giữa ông Q với bà Hoa và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ.
Bà Th khởi kiện đòi quyền sử dụng đất với lý do nhờ ông Q đứng tên giùm quyền sử dụng đất 174,9 m2 là có cơ sở. Bà Th hiện đang định cư tại Hoa Kỳ không có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận QSD đất ở theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Thành, buộc bị đơn, ông Trương Tấn Q hoàn trả cho bà Th giá trị quyền sử dụng 174,9 m2 với số tiền 1.379.961.000 đồng, là có căn cứ”
Khó khăn lớn nhất trong các vụ án đứng tên hộ không phải là xác định quy định pháp luật áp dụng mà là xác định sự thật khách quan của vụ việc.
Đặc điểm chung của các quan hệ đứng tên hộ là hầu như không tồn tại hợp đồng đứng tên hộ bằng văn bản. Các bên thường chỉ thỏa thuận miệng dựa trên sự tin tưởng hoặc quan hệ thân thích. Đến khi phát sinh tranh chấp, người cho rằng mình là chủ sở hữu thực sự mới bắt đầu tìm kiếm các tài liệu để chứng minh.
Chính vì vậy, kết quả của vụ án thường phụ thuộc vào việc ai chứng minh được nguồn gốc hình thành tài sản.
Trong thực tiễn, Tòa án thường xem xét đồng thời nhiều nhóm chứng cứ khác nhau như:
- Nguồn tiền dùng để mua tài sản;
- Các giao dịch chuyển khoản;
- Khả năng tài chính của người đứng tên;
- Việc quản lý, sử dụng và khai thác tài sản;
- Việc nộp thuế, sửa chữa, bảo trì;
- Lời khai của người làm chứng;
- Tin nhắn, email, ghi âm hoặc các tài liệu điện tử khác.
Điều đáng lưu ý là không nhất thiết phải tồn tại một chứng cứ trực tiếp chứng minh việc đứng tên hộ. Một hệ thống chứng cứ gián tiếp nhưng logic, thống nhất và phù hợp với diễn biến khách quan của vụ việc vẫn có thể là cơ sở để Tòa án xác định chủ sở hữu thực sự của tài sản.
Ví dụ: Bản án 01/2023/DS-ST ngày 04/01/2023 Về Tranh Chấp Đòi Lại Tài Sản Của Tòa Án Nhân Dân Thị Xã La Gi, Tỉnh Bình Thuận
“Xét nguồn gốc nhà và đất là tài sản của vợ chồng ông Trịnh Công L, bà Nguyễn Thị Hoài V. Theo ông L, bà V thì bà Ph chính là người đứng ra thỏa thuận giao dịch chuyển nhượng nhà đất với vợ chồng ông bà. Sau đó, bà Ph chuyển khoản cho ông Phạm Hùng T (anh rể ông Trịnh Công L), ông T nhận tiền và giao lại cho vợ chồng ông L, bà V. Ông T, ông L và bà V đều xác định bà Ph là người mua đất và nhờ ông S đứng tên giùm. Ông S cũng thừa nhận đây là tài sản của bà Ph. Do đó, Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở xác định tiền mua nhà đất đang tranh chấp là của bà Ph. Bà Ph nhờ ông S là anh ruột đứng tên giùm. Nay bà Ph đòi lại nhà đất là có căn cứ chấp nhận.
Bà L cho rằng đây là tài sản tạo lập trong thời kỳ hôn nhân với ông S, nên bà không đồng ý khởi kiện của bà Ph. Xét thấy: Tại Biên bản lấy lời khai ngày 30/8/2022, bà L trình bày: “Việc mua nhà, đất là do ông S đi mua, bà ở ngoài Nghệ An nên không biết gì. Ông S mua của ai và giao tiền thế nào thì bà không biết. Ông S làm nghề biển, còn bà làm thuê, nếu tình hình kinh tế như vậy thì ông bà không thể mua nhà đất. Bà P không có tiền để mua nhà đất…”. Hội đồng xét xử xét thấy: Lời khai của bà L là không có căn cứ, vì bà không cung cấp được chứng cứ nào để cho rằng ông S trúng số để mua nhà đất. Theo bà, công việc của bà và ông S cũng không thể mua được nhà đất. Ngược lại, phía nguyên đơn bà Ph xuất trình cho Tòa án xác nhận thông tin người trúng thưởng vé số truyền thống Bình Phước của Công ty TNHH một thành viên xổ số kiến thiết và DVTH Bình Phước về việc bà Ph có trúng giải đặc biệt 04 tờ vé sổ số truyền thống vào ngày 29/8/2000. Vì vậy, việc bà L cho rằng bà Ph không có tiền để mua nhà đất là không đúng.”
Thực tiễn xét xử cũng cho thấy có các giới hạn của việc bảo vệ chủ sở hữu thực tế. Mặc dù có xu hướng bảo vệ người bỏ tiền tạo lập tài sản, nhưng quyền lợi của chủ sở hữu thực tế không phải lúc nào cũng được bảo vệ tuyệt đối.
Trong nhiều trường hợp, người đứng tên hộ đã chuyển nhượng tài sản cho người khác trước khi tranh chấp phát sinh. Khi đó, vấn đề không còn đơn thuần là xác định ai là chủ sở hữu thực sự nữa mà còn liên quan đến việc bảo vệ người thứ ba ngay tình.
Nếu bên nhận chuyển nhượng không biết và không thể biết về thỏa thuận đứng tên hộ, đồng thời giao dịch được thực hiện đúng trình tự pháp luật, thì việc hủy bỏ giao dịch để trả lại tài sản cho chủ sở hữu thực tế có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự an toàn của các giao dịch dân sự.
Đó là lý do vì sao pháp luật dân sự hiện đại luôn cố gắng cân bằng giữa hai lợi ích: bảo vệ quyền sở hữu thực chất và bảo vệ sự ổn định của giao dịch.
Trong nhiều trường hợp, Tòa án có thể không buộc người thứ ba hoàn trả tài sản mà chuyển hướng giải quyết sang nghĩa vụ bồi thường thiệt hại giữa người đứng tên hộ và người bỏ tiền tạo lập tài sản.
- Kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Thực tiễn xét xử cho thấy tranh chấp tài sản đứng tên hộ không còn là hiện tượng cá biệt mà đã trở thành một dạng tranh chấp phổ biến trong đời sống dân sự.
Tuy nhiên, cho đến nay, việc giải quyết các tranh chấp này vẫn chủ yếu dựa vào hoạt động suy luận tư pháp và đánh giá chứng cứ của từng Hội đồng xét xử. Điều này tạo ra nguy cơ thiếu thống nhất trong áp dụng pháp luật và làm giảm tính dự đoán của các phán quyết tư pháp. Đã đến lúc cần nghiên cứu xây dựng một cơ chế pháp lý chính thức điều chỉnh quan hệ đứng tên hộ. Pháp luật cần xác định rõ tiêu chí nhận diện quan hệ này, quy định nghĩa vụ chứng minh của các bên, giá trị pháp lý của các thỏa thuận đứng tên hộ và nguyên tắc xử lý quyền lợi của người thứ ba ngay tình.
Việc lấp đầy khoảng trống pháp lý này không chỉ giúp hạn chế tranh chấp mà còn góp phần bảo đảm tính minh bạch, an toàn và ổn định của các quan hệ dân sự trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng phát triển.
Kết luận
Bản chất của tranh chấp tài sản đứng tên hộ là cuộc xung đột giữa hình thức pháp lý và quyền sở hữu thực tế. Trong khi pháp luật hiện hành chưa có quy định điều chỉnh trực tiếp, thực tiễn xét xử đang cho thấy xu hướng ngày càng rõ nét: Tòa án không tuyệt đối hóa tên người đứng trên giấy tờ mà chú trọng xem xét nguồn gốc hình thành tài sản, ý chí thực sự của các bên và toàn bộ quá trình quản lý, sử dụng tài sản.
Đó là một hướng tiếp cận hợp lý nhằm bảo vệ công bằng thực chất. Tuy nhiên, để bảo đảm tính thống nhất và khả năng dự đoán của pháp luật, việc hoàn thiện khung pháp lý đối với tài sản đứng tên hộ là yêu cầu không thể trì hoãn trong thời gian tới.
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn