
Thi hành án dân sự là một bước vô cùng quan trọng trong quá trình bảo vệ pháp luật, bởi đây là giai đoạn thực thi phán quyết của cơ quan có thẩm quyền trên thực tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, trong thực tế công tác thi hành án dân sự ở nước ta hiện nay thường gặp phải một trong những trở ngại lớn nhất chính là tình trạng người phải thi hành án không có tài sản hoặc thu nhập để thực hiện nghĩa vụ, hay thường gọi là người phải thi hành án “không đủ điều kiện thi hành án”. Tình trạng này khiến nhiều bản án bị treo trong thời gian dài, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của người được thi hành án, đồng thời làm suy giảm hiệu lực và uy tín của hệ thống tư pháp. Việc nghiên cứu, phân tích và đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong vấn đề này là cần thiết để bảo đảm công lý được thực thi một cách đầy đủ.
- Quy định về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án
Theo Điều 44 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung các năm 2014,), việc thi hành một bản án, quyết định của Tòa án được tiến hành khi người phải thi hành án có tài sản, thu nhập hoặc các điều kiện khác bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hết thời hạn tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiến hành xác minh; trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì phải tiến hành xác minh ngay. Trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án thì ít nhất 06 tháng một lần, Chấp hành viên phải xác minh điều kiện thi hành án; trường hợp người phải thi hành án chưa có điều kiện thi hành án là người đang chấp hành hình phạt tù mà thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại từ 02 năm trở lên hoặc không xác định được địa chỉ, nơi cư trú mới của người phải thi hành án thì thời hạn xác minh ít nhất 01 năm một lần. Sau hai lần xác minh mà người phải thi hành án vẫn chưa có điều kiện thi hành án thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho người được thi hành án về kết quả xác minh. Việc xác minh lại được tiến hành khi có thông tin mới về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án.
Luật cũng quy định việc chưa đủ điều kiện thi hành án được xác định khi thuộc một trong các trường hợp[1] sau:
– Người phải thi hành án không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải thi hành án, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng và không có tài sản để thi hành án hoặc có tài sản nhưng giá trị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế thi hành án hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để thi hành án;
– Người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ về trả vật đặc định nhưng vật phải trả không còn hoặc hư hỏng đến mức không thể sử dụng được; phải trả giấy tờ nhưng giấy tờ không thể thu hồi và cũng không thể cấp lại được mà đương sự không có thỏa thuận khác;
– Chưa xác định được địa chỉ, nơi cư trú của người phải thi hành án, người chưa thành niên được giao cho người khác nuôi dưỡng.
Điều kiện thi hành án được hiểu là khả năng thực tế của người phải thi hành án trong việc thực hiện nghĩa vụ theo bản án. Đây là căn cứ để cơ quan thi hành án xác định có thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế hay không. Tuy nhiên, quy định pháp luật mới chỉ dừng ở mức ghi nhận thực tế, chưa có những cơ chế cụ thể để bảo vệ quyền lợi của người được thi hành án khi nghĩa vụ không thể thực hiện. Việc xác định một người có “đủ điều kiện” hay “chưa đủ điều kiện” thi hành án vẫn còn phụ thuộc nhiều vào khả năng xác minh tài sản, đây là vấn đề còn nhiều hạn chế trong thực tế.
- Thực tiễn vấn đề về không đủ điều kiện thi hành án trong nhiều vụ án tại Việt Nam
Thực tiễn công tác thi hành án dân sự cho thấy, số lượng vụ việc rơi vào diện “chưa có điều kiện thi hành” chiếm tỷ lệ lớn, đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, thương mại. Thực hiện Thông tư số 05/2024/TT-BTP ngày 10/6/2024 của Bộ Tư pháp Quy định Chế độ báo cáo thống kê thi hành án dân sự, theo dõi thi hành án hành chính và chỉ đạo của Lãnh đạo Tổng cục Thi hành án dân sự về việc xây dựng báo cáo phục vụ sơ kết công tác thi hành án dân sự, Vụ Nghiệp vụ 3 tổng hợp báo cáo kết quả thi hành án dân sự 12 tháng năm 2024[2], theo kết quả thi hành án dân sự toàn quốc thì: về việc thì đối với các vụ thi hành án chưa có điều kiện (trừ số đã chuyển sổ theo dõi riêng) 249.127 việc, 24,35% trong tổng số phải thi hành; về tiền thì chưa có điều kiện (trừ số đã chuyển sổ theo dõi riêng) 220.485 tỷ 301 triệu 844 nghìn đồng, chiếm 44,09% trong tổng số phải thi hành.
Theo phản ánh của báo chí ghi nhận nhiều doanh nghiệp sau khi bị tuyên thua kiện đã “mất tích”, giải thể hoặc không còn hoạt động. Hoặc có doanh nghiệp có tài sản, những toàn bộ tài sản đã thế chấp ngân hàng[3], khiến cơ quan thi hành án không thể tổ chức thi hành án, tiến hành cưỡng chế tài sản. Đây không phải là hiện tượng đơn lẻ, mà đã trở thành một dạng phổ biến, gây bức xúc xã hội và thách thức pháp luật. Ngoài ra, cũng có nhiều trường hợp doanh nghiệp, cá nhân thực hiện tẩu tán tài sản trước khi bản án có hiệu lực. Điển hình, nhiều người phải thi hành án đã chuyển nhượng nhà đất cho người thân hoặc lập công ty mới để chuyển vốn, tài sản ra khỏi pháp nhân cũ.
Trong thực tiễn, số lượng vụ việc người phải thi hành án là doanh nghiệp bị “mất tích” hoặc không còn khả năng thanh toán để thi hành án tăng lên rõ rệt. Một ví dụ cụ thể Công ty M.T – chủ sở hữu một chiếc xe ben gây tai nạn và phải liên đới bồi thường cho gia đình bị hại 50 triệu đồng. Tuy nhiên khi chấp hành viên theo bản án đến địa chỉ công ty khai báo thì phát hiện chi nhánh công ty đó không tồn tại như trong bản án. Khi tiếp tục xác minh, cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Q tiếp tục xác minh và phát hiện trụ sở chính của Công ty M.T ở tại thành phố Hồ Chí Minh, do đó đã uỷ thác để 1 đơn vị thi hành án thuộc thành phố Hồ Chí Minh thực hiện thi hành án, nhưng khi xác minh vẫn không tồn tại doanh nghiệp này. Mãi sau này, sau nhiều công đoạn điều tra, xác minh cơ quan thi hành án mới phát hiện công ty M.T đã giải thể để chuyển sang thành lập một công ty mới. Như vậy, xét về pháp lý, công ty này đã đương nhiên “thoát” nghĩa vụ thi hành án.[4]
Hệ lụy từ những trường hợp như vậy là rất lớn. Trước hết, người được thi hành án (cá nhân bị hại, đối tác) không thể thực thi được quyền lợi hợp pháp, buộc phải chấp nhận mất mát về tài sản, chi phí khởi kiện, yêu cầu luật sư trợ giúp pháp lý, thời gian chờ đợi. Thứ hai, án tuyên có hiệu lực pháp lý nhưng mất tính thực tế, làm giảm lòng tin của người dân vào hệ thống tư pháp – khi thắng kiện mà không được thi hành. Thứ ba, các doanh nghiệp hoặc cá nhân lợi dụng việc giải thể, chuyển đổi pháp nhân để trốn trách nhiệm thi hành án, tính công bằng trong quan hệ pháp lý và xã hội.
Về thủ tục, việc xác minh điều kiện thi hành án cũng là một trong những khó khăn lớn đối với chấp hành viên. Khi xác minh nhất thiết trong mọi trường hợp Chấp hành viên phải gặp được người phải thi hành án mới lập được biên bản xác minh; chờ việc kê khai trung thực, cung cấp đầy đủ thông tin về tài sản, thu nhập, điều kiện thi hành án từ người phải thi hành án. Thực tiễn thi hành đối với các vụ án có vẻ chây ì trên hầu như không thực hiện được, người phải thi hành án đa số thường không hợp tác với Chấp hành viên, trốn tránh trách nhiệm. Trên cơ sở các quy định của Luật Thi hành án dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành và thực tiễn thì hiện nay có rất nhiều vướng mắc.[5] Nhiều vụ thi hành án không đủ điều kiện thi hành án, dẫn tới việc án tồn đọng kéo dài, cơ quan thi hành án phải tập trung nhân lực, chi phí xác minh, điều tra nhiều hơn, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của Thi hành án dân sự nói chung.
- Kiến nghị, hoàn thiện pháp luật
Thứ nhất, cần hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến việc xác minh tài sản, theo hướng tăng cường trách nhiệm của chấp hành viên, các cơ quan nhà nước, tổ chức ngân hàng, doanh nghiệp,… có liên quan trong việc tiếp cận dữ liệu tài sản và thu nhập của người phải thi hành án.
Quyền lợi của người được thi hành án sẽ bị ảnh hưởng lớn bởi chính sự hời hợt, thiếu trách nhiệm của chấp hành viên được phân công thực hiện thi hành án, cũng như sự vô trách nhiệm trong kịp thời cung cấp thông tin của các cơ quan liên quan. Trong khi đó, hiện nay pháp luật chưa có quy định đủ tính răn đe, ràng buộc trách nhiệm của các cá nhân trong việc thi hành án. Các quy định về trách nhiệm phối hợp của ngân hàng, cơ quan thuế, đăng ký đất đai trong việc cung cấp thông tin tài sản của người phải thi hành án cũng cần được quy định chi tiết hơn. Đồng thời, cần bổ sung thời hạn nhất định cho việc cung cấp thông tin này để kịp thời có biện pháp thi hành án thích hợp, nhanh chóng.
Thứ hai, Nhà nước cần xây dựng cơ chế quản lý tài sản minh bạch, gắn với việc kê khai, công khai và kiểm soát thu nhập cá nhân. Chẳng hạn tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, kết nối dữ liệu tài sản.
Thứ ba, mở rộng trách nhiệm của cá nhân, tổ chức liên quan đến hồ sơ thi hành án, tăng cường chế tài đối với hành vi cố ý tẩu tán, che giấu tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ, coi đó là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng và có thể bị xử lý hình sự.
Ngoài ra, cần nghiên cứu xây dựng quỹ bảo đảm thi hành án hoặc cơ chế bảo hiểm thi hành án dân sự để trong trường hợp người phải thi hành án không có khả năng, quyền lợi của người được thi hành án vẫn phần nào được đảm bảo. Song song với đó, việc nâng cao năng lực của đội ngũ chấp hành viên và tăng cường sự phối hợp liên ngành cũng là điều kiện tiên quyết để hạn chế các vụ án bị “treo” do không đủ điều kiện thi hành.
Có thể thấy rằng, tình trạng không đủ điều kiện thi hành án dân sự là một thách thức lớn, làm giảm hiệu lực của các bản án và ảnh hưởng đến uy tín của hệ thống tư pháp. Pháp luật hiện hành đã có quy định ghi nhận thực tế này, nhưng vẫn chưa đủ chặt chẽ và hiệu quả để giải quyết triệt để. Việc hoàn thiện pháp luật, xây dựng cơ chế quản lý tài sản minh bạch, áp dụng chế tài nghiêm khắc hơn và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan chức năng sẽ là những giải pháp căn cơ để khắc phục tình trạng trên. Chỉ khi bản án được thi hành một cách nghiêm túc và kịp thời, công lý mới thực sự được đảm bảo và niềm tin của nhân dân vào pháp luật mới có thể được củng cố.
Luật sư Thanh Trà – Luật sư FDVN
[1] Điều 44a Luật Thi hành án dân sự 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014
[2] Cục Quản lý Thi hành án dân sự – Bộ Tư pháp, Kết quả thi hành án dân sự 12 tháng năm 2024 (từ 01/10/2023 đến hết 30/9/2024), https://thads.moj.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/ThiHanhAnDanSuTrongDiem/Attachments/3572/2.%20Chinh%20thuc.pdf
[3] Báo Công an, Doanh nghiệp ngàn tỷ nhưng không thi hành án… vài trăm triệu, https://congan.com.vn/thong-tin-ban-doc/doanh-nghiep-ngan-ty-khong-thi-hanh-an-vai-tram-trieu-dong_166890.html
[4] Báo Pháp luật Việt Nam, Doanh nghiệp “thoát xác” trốn thi hành án, https://baophapluat.vn/doanh-nghiep-thoat-xac-tron-thi-hanh-an-post104431.html
[5] Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai, Những tồn tại, vướng mắc trong việc xác minh thi hành án dân sự, https://thads.moj.gov.vn/gialai/noidung/tintuc/lists/nghiencuutraodoi/view_detail.aspx?itemid=45
……………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường Bình Lợi Trung, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn