
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ số 131/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/04/2026. Việc ban hành luật này nhằm hoàn thiện khung pháp lý về sở hữu trí tuệ, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Đồng thời, luật cũng khắc phục những bất cập phát sinh trong thực tiễn thi hành, tăng cường hiệu quả bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong bối cảnh công nghệ và thương mại điện tử phát triển mạnh mẽ. Dưới đây là 07 điểm mới đáng chú ý của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Sở hữu trí tuệ 2025 cần quan tâm:
1. Luật hóa vấn đề sở hữu trí tuệ gắn với trí tuệ nhân tạo (AI):
Một trong những điểm mới đáng chú ý của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Sở hữu trí tuệ 2025 là lần đầu tiên ghi nhận cơ sở pháp lý liên quan đến các đối tượng sở hữu trí tuệ được tạo ra với sự hỗ trợ của trí tuệ nhân tạo (AI).
Theo đó, tại khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Sở hữu trí tuệ 2025 đã bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 Điều 6 vào Luật Sở hữu trí tuệ 2005 như sau: “Căn cứ vào quy định của Luật này, Chính phủ quy định việc phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này trong trường hợp đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo.”
Đây là bước điều chỉnh cần thiết trong bối cảnh công nghệ AI ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong hoạt động sáng tạo, nghiên cứu và phát triển sản phẩm. Việc bổ sung quy định này kết hợp với việc Chính phủ đã ban hành Nghị định số 100/2026/NĐ-CP có quy định về quyền đối với đối tượng quyền sở hữu công nghiệp được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo và Nghị định 134/2026/NĐ-CP quy định việc phát sinh quyền tác giả, quyền liên quan trong trường hợp đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan được tạo ra có sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo không chỉ giúp hoàn thiện hành lang pháp lý trước những vấn đề mới phát sinh từ công nghệ số mà còn tạo cơ sở để xác định rõ quyền và lợi ích của các chủ thể liên quan đối với các sản phẩm có sự tham gia của AI. Qua đó, pháp luật về sở hữu trí tuệ từng bước thích ứng với xu hướng phát triển công nghệ và yêu cầu thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.
2. Mở rộng và làm rõ giới hạn quyền sở hữu trí tuệ vì lợi ích công cộng:
Tại khoản 3 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi bổ sung năm 2025 đã sửa đổi, bổ sung khoản 2 và khoản 3; bổ sung khoản 4 và khoản 5 vào sau khoản 3 Điều 7 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 đã có những điều chỉnh quan trọng nhằm cân bằng giữa việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và bảo đảm lợi ích chung của xã hội. Theo đó, luật nhấn mạnh rằng việc khai thác và thực thi quyền sở hữu trí tuệ không được làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác, đồng thời phải tuân thủ các quy định pháp luật có liên quan. Tổ chức, cá nhân thực hiện quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không được ngăn chặn, cản trở việc phổ biến, sử dụng Quốc kỳ, Quốc huy, Quốc ca.
Luật bổ sung cơ chế cho phép Nhà nước áp dụng các biện pháp cần thiết như hạn chế, cấm hoặc buộc chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ trong những trường hợp đặc biệt liên quan đến quốc phòng, an ninh, y tế, khoa học và công nghệ. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để bảo đảm lợi ích quốc gia và đáp ứng các nhu cầu cấp thiết của xã hội.
Một điểm mới đáng chú ý khác là việc bổ sung cơ chế xử lý xung đột giữa nhiều quyền sở hữu trí tuệ cùng tồn tại trên một đối tượng. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp, quyền được xác lập sau có thể bị buộc chấm dứt thực hiện theo quyết định của Tòa án nhằm bảo đảm tính minh bạch và ổn định trong quá trình bảo hộ quyền.
Đặc biệt, luật lần đầu tiên cho phép tổ chức, cá nhân sử dụng hợp pháp các văn bản và dữ liệu về đối tượng sở hữu trí tuệ đã được công bố và công chúng được phép tiếp cận để phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học, thử nghiệm và huấn luyện hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI). Tuy nhiên, việc sử dụng này phải bảo đảm không gây ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của tác giả, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ; đối với các dữ liệu thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả và quyền liên quan còn phải tuân thủ các điều kiện cụ thể do Chính phủ quy định.
Đây được xem là bước tiến quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý cho phát triển AI, đồng thời vẫn bảo đảm cân bằng với quyền của chủ thể sở hữu trí tuệ.
3. Bổ sung chính sách về quản lý, khai thác và thương mại hóa quyền sở hữu trí tuệ:
Khoản 5 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ năm 2025 đã bổ sung Điều 8a vào sau Điều 8 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi năm 2009 với quy định trực tiếp về quản lý và khai thác quyền sở hữu trí tuệ như một loại tài sản có giá trị kinh tế. Quy định này thể hiện sự thay đổi trong tư duy quản lý, không chỉ tập trung vào bảo hộ quyền mà còn thúc đẩy việc khai thác và thương mại hóa tài sản trí tuệ trong thực tiễn.
Theo đó, chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ có trách nhiệm xây dựng danh mục riêng để quản trị nội bộ đối với các quyền sở hữu trí tuệ chưa đủ điều kiện ghi nhận là tài sản trên sổ kế toán theo quy định của pháp luật. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và theo dõi các tài sản trí tuệ của tổ chức, doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, luật khẳng định quyền sở hữu trí tuệ có thể được sử dụng trong nhiều hoạt động kinh tế như giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư, góp vốn hoặc các hoạt động khác theo quy định của pháp luật. Đặc biệt, quyền sở hữu trí tuệ còn được sử dụng làm tài sản bảo đảm để thế chấp vay vốn hoặc góp vốn vào doanh nghiệp, tạo thêm nguồn lực tài chính cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động khai thác giá trị thương mại của quyền sở hữu trí tuệ nhằm huy động nguồn vốn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh. Quy định này được kỳ vọng sẽ góp phần đưa tài sản trí tuệ trở thành một nguồn lực quan trọng trong phát triển kinh tế và hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
4. Cải cách thủ tục hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ:
Tiếp tục thực hiện chủ trương thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo Nghị quyết số 57-NQ/TW năm 2024 và Nghị quyết số 68-NQ/TW năm 2025, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 đã có nhiều thay đổi quan trọng nhằm hiện đại hóa hoạt động quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ. Theo đó, thời gian xử lý đơn sở hữu công nghiệp được rút ngắn đáng kể, thủ tục xác lập và đăng ký quyền được đơn giản hóa, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính.
Khoản 6 Điều 1 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 đã bổ sung Điều 11b về chuyển đổi số hoạt động sở hữu trí tuệ, tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc hiện đại hóa hệ thống SHTT quốc gia trong giai đoạn 2026-2035. Theo đó, Nhà nước thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện hoạt động sở hữu trí tuệ thông qua việc ưu tiên phát triển đồng bộ hạ tầng số, cung cấp dịch vụ công trực tuyến, các nền tảng số phục vụ nghiệp vụ sở hữu trí tuệ, bao gồm cả cơ sở dữ liệu về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và cơ sở dữ liệu về giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ, bảo đảm an toàn và thân thiện với người sử dụng. Bên cạnh đó, việc ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và các công nghệ số vào quy trình nghiệp vụ cũng được đẩy mạnh nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng cung cấp dịch vụ công.
5. Điều chỉnh phương thức nộp đơn thực hiện thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp:
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 cũng điều chỉnh quy định về cách thức nộp đơn theo hướng linh hoạt và phù hợp hơn với môi trường số. Thay vì chỉ tập trung vào thủ tục đăng ký xác lập quyền như trước đây, phạm vi điều chỉnh được mở rộng đối với toàn bộ các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.
Theo quy định mới tại Điều 89 được sửa đổi, bổ sung thì cách thức nộp đơn yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp như sau:
– Tổ chức, cá nhân Việt Nam, cá nhân nước ngoài thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam có thể tự mình hoặc thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam để nộp đơn yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp.
– Cá nhân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài không có cơ sở sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam nộp đơn yêu cầu thực hiện các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp thông qua đại diện hợp pháp tại Việt Nam.
Đơn trong các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp phải được nộp dưới hình thức văn bản ở dạng giấy hoặc dạng điện tử theo hệ thống nộp đơn điện tử.
Như vậy, So với các quy định trước đây, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh của Điều 89, không chỉ giới hạn ở thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp mà áp dụng đối với toàn bộ các thủ tục liên quan đến quyền sở hữu công nghiệp. Đồng thời, luật cũng chính thức ghi nhận và thống nhất hai hình thức nộp hồ sơ là nộp trực tiếp bằng bản giấy và nộp điện tử thông qua hệ thống trực tuyến, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho quá trình chuyển đổi số và giúp tổ chức, cá nhân thuận tiện hơn khi thực hiện các thủ tục hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
6. Đơn giản hóa yêu cầu đối với đơn đăng ký sở hữu công nghiệp:
Một điểm mới khác được Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 đã sửa đổi Điều 100 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi năm 2009 là việc sửa đổi quy định về yêu cầu chung đối với đơn đăng ký sở hữu công nghiệp theo hướng tinh gọn và linh hoạt hơn. Nếu trước đây pháp luật quy định chi tiết từng loại tài liệu phải có trong hồ sơ đăng ký thì nay chỉ quy định theo nguyên tắc chung, theo đó đơn đăng ký bao gồm các tài liệu liên quan đến đối tượng yêu cầu bảo hộ và các tài liệu cần thiết khác theo quy định.
Cách tiếp cận này giúp đơn giản hóa quy định trong luật, đồng thời tạo điều kiện để các yêu cầu cụ thể được hướng dẫn linh hoạt hơn trong văn bản dưới luật. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc các tài liệu như giấy ủy quyền, tài liệu chứng minh quyền ưu tiên hoặc các tài liệu liên quan khác bị bãi bỏ.
Bên cạnh đó, luật bổ sung nguyên tắc mỗi đơn đăng ký chỉ yêu cầu cấp một văn bằng bảo hộ cho một đối tượng sở hữu công nghiệp duy nhất, qua đó bảo đảm tính rõ ràng và thuận lợi trong quá trình thẩm định. Đồng thời, người nộp đơn phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của các thông tin kê khai; trường hợp phát hiện có hành vi kê khai sai sự thật, văn bằng bảo hộ đã được cấp có thể bị thu hồi theo quy định của pháp luật.
7. Tăng cường trách nhiệm của nền tảng số và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trong bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ:
Trước sự phát triển mạnh mẽ của môi trường số và thương mại điện tử, Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 đã bổ sung các quy định nhằm nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và chủ quản nền tảng số trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trên không gian mạng.
Theo đó, Điều 198b được sửa đổi và bổ sung theo hướng làm rõ phạm vi trách nhiệm pháp lý của các chủ thể cung cấp nền tảng, dịch vụ kết nối và chia sẻ nội dung trực tuyến. Đặc biệt, luật lần đầu tiên quy định rõ trách nhiệm của chủ quản nền tảng số trong việc triển khai các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, thương mại điện tử, an ninh mạng và các quy định có liên quan.
Quy định mới yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian và nền tảng số chủ động áp dụng các biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên hệ thống của mình. Đồng thời, các chủ thể này có trách nhiệm phối hợp với chủ sở hữu quyền và cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quá trình xử lý vi phạm, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi quyền sở hữu trí tuệ trong môi trường số.
Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2025 cũng tiếp tục hoàn thiện các quy định về đăng ký và bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp thông qua việc sửa đổi nhiều điều khoản liên quan đến thủ tục nộp đơn, thẩm định và cấp văn bằng bảo hộ . Những thay đổi đáng chú ý gồm mở rộng hình thức nộp đơn điện tử, cho phép công bố sớm đơn đăng ký nhãn hiệu, rút ngắn thời gian thẩm định, bổ sung cơ chế thẩm định nhanh, làm rõ quyền phản đối của bên thứ ba và nâng cao trách nhiệm của người nộp đơn đối với tính chính xác, trung thực của thông tin cung cấp. Các quy định này được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch, hiệu quả và khả năng tiếp cận của hệ thống sở hữu trí tuệ Việt Nam.
………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn