
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được thực hiện tại Phòng Công chứng số 2 tỉnh Hòa Bình có địa chỉ tại thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn và thửa đất chuyển nhượng có địa chỉ tại xã Nhuận Trạch, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Do vậy, Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của Bị đơn Nguyễn Văn D trong thời gian luật định và hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Đối với yêu cầu tuyên vô hiệu hợp đồng chuyên nhượng quyền sửdụng đất.
Tài liệu hồ sơ thể hiện: Trên cơ sở hợp đồng đặt cọc đã ký ngày 13/5/2020, thì đến ngày 26/6/2020 ông Đoàn Trọng V, bà Tạ Vân H và ông Nguyễn Văn D, ông Lưu Thế L có ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 1267, quyền số 01/2020/TP/CC-SCC/DDGĐ tại Văn phòng công chứng số 2 tỉnh Hòa Bình. Theo Hợp đồng chuyển nhượng, vợ chồng ông V bà H chuyển nhượng thửa đất số 35a, tờ bản đồ 22, diện tích 3343m2 (Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AP 958474 vào sổ cấp giấy chứng nhận số H00490 do Ủy ban nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình cấp ngày 28/8/2009) tại xóm Đầm Rái, xã Nhuận Trạch, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình cho ông D và ông L với giá chuyển nhượng là 1,5 tỉ đồng. Do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký với giá thấp hơn nhiều giá thực tế được ghi trong hợp đồng đặt cọc là vi phạm pháp luật nên phía ông V, bà H muốn trao đổi với phía ông D. ông L để hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng trên. Tuy nhiên qua nhiều lần trao đổi, các bên không hợp tác nên ông V, bà H đã khởi kiện yêu cầu: Tuyên Hợp đồng chuyên nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 35a giữa ông Đoàn Trọng V, bà Tạ Vân H và ông Nguyễn Văn D, ông Lưu Thế L tại Phòng công chứng số 02 tỉnh Hòa Bình vô hiệu. Ông Nguyễn Xuân D phải có nghĩa vụ cùng bên chuyển nhượng giải quyết các hậu quả của Hợp đồng vô hiệu theo quy định của pháp luật hiện hành.
Bị đơn ông Nguyễn Văn D: Mong muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đề nghị điều chỉnh diện tích chuyển nhượng trừ đi phần diện tích bị quy hoạch 402,5m² và kê khai nộp các loại thuế, phíđúng giá trị mua thật theo quy định pháp luật, ký phụ lục có công chứng điều chỉnh giá chuyển nhượng theo đơn giá được xác định trên cơ sở hợp đồng đặt cọc. Nếu bên chuyển nhượng không thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng thì ông đề nghị ông Đoàn Trọng V phải trả cho ông số tiền đặt cọc là 150.000.000 đồng và số tiền phạt cọc gấp 10 lần số tiền đặt cọc theo như thỏa thuận tại Điều 3 của hợp đồng đặt cọc ngày 13/5/2020 đã thỏa thuận.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn D chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án tuyên hủy hợp đồng đặt cọc, nêu nguyên đơn không thực hiện nghĩa vụ chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông yêu cầu nguyên đơn ông Đoàn Trọng V trả số tiền đặt cọc là 150 triệu đồng và tiền phạt cọc gấp 10 lần số tiền đặt cọc.
Hội đồng xét xử thấy rằng, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn đều thừa nhận: Giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hai thửa đất số 35, 35a ghi trong hợp đồng đặt cọc là ghi đúng giá trị thực tế của thửa đất mà các bên đã thỏa thuận, để làm căn cứ thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng. Còn giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 26/6/2020 đối với thửa đất 35a; tờ bản đồ số 22, diện tích đất 3343m² với số tiền chuyển nhượng 1.500.000.000 đồng thấp hơn so với giá thực tế mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng đặt cọc, nhằm mục đích nộp thuế thấp hơn đối với nhà nước. Do đó hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đoàn Trọng V, bà Tạ Vân H và ông Nguyễn Văn D, ông Lưu Thế L là giao dịch dân sự giả tạo nhằm mục đích nộp thuế thấp hơn đối với nhà nước, hành vi này bị nghiêm cấm trong quản lý thuế và vi phạm trách nhiệm của người nộp thuế quy định tại Điều 6 và Điều 17 của Luật quản lý thuế năm 2019. Tại phiên tòa sơ thẩm ông Nguyễn Văn D chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Tòa án tuyên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu. Vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ các điều 117, 122, 123, 124, 407 Bộ luật Dân sự, tuyên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Đoàn Trọng V, bà Tạ Vân H và ông Nguyễn Văn D, ông Lưu Thế L vô hiệu là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định các bên trong hợp đồng có lỗi như nhau trong việc ký hợp đồng vô hiệu nên không bên nào phải bồi thường bên nào là phù hợp. Mặt khác, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mặc dù đã được các bên ký và đã được chứng thực tại Văn phòng công chứng số 2 tỉnh Hòa Bình nhưng thực tế các bên chưa thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết trong hợp đồng, bên mua chưa giao tiền cho bên bán và bên bán chưa giao đất, giấy tờ liên quan cho bên mua, các bên chưa đăng ký vào số địa chính. Đối với số tiền 300.000.000 đồng ghi trong hợp đồng đặt cọc là tiền đặt cọc đảm bảo thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, không phải là một phần tiền thanh toán trước giá trị quyền sử dụng đất nên hậu quả của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu chưa xảy ra. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu nhưng do hậu quả của hợp đồng vô hiệu chưa xảy ra nên không tuyên trong phần quyết định của bản án là phù hợp.
Bị đơn ông Nguyễn Văn D không kháng cáo đối với nội dung này.
[2.2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn D về việc đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu của nguyên đơn về việc hủy hợp đồng đặt cọc và đồng ý trả lại tiền đặt cọc, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ông Nguyễn Văn D khai ngày 12/5/2020 vợ ông D là bà Lê Hồng Nh có chuyển vào tài khoản của anh Đoàn Trọng V số tiền 150 triệu đồng từ tài khoản tên của chị Lê Hồng Nh với nội dung chuyển khoản “anh D đặt cọc mua đất”, điều này phù hợp với bản sao kê tài khoản tiền gửi khách hàng của anh Đoàn Trọng V. Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ lời khai của ông D khai số tiền trên là của ông D, vợ ông chỉ là người chuyển khoản giúp nên đã không đưa bà Lê Hồng Nh vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để xác minh làm rõ số tiền đặt cọc của ai là thiếu sót, vi phạm Điều 73 Bộ luật Tố tụng dân sự, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Lê Hồng Nh
Quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Văn D có đưa ra yêu cầu buộc ông Đoàn Trọng V phải trả lại cho ông D số tiền cọc đã nhận 150.000.000 đồng (một trăm năm mươi triệu đồng) và tiền phạt cọc gấp 10 lần số tiền cọc (khoản tiền tương đương là 1.500.000.000 đồng), nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không thông báo cho ông Nguyễn Văn D thực hiện thủ tục nộp đơn yêu cầu phản tố, đóng tiền tạm ứng án phí đối với yêu cầu phạt cọc là thiếu sót, vi phạm quy định tại Điều 71, Điều 200 và Điều 202 Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm vẫn tiến hành xét xử, nhận định trong bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu phạt cọc của ông Nguyễn Văn D nhưng không tuyên trong phần quyết định của bản án là chưa giải quyết hết các yêu cầu của đương sự, vi phạm quy định tại Điều 5 và Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hơn nữa theo khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án, trong trường hợp Tòa án không chấp nhận phạt cọc của ông Nguyễn Văn D thì bên yêu cầu phạt cọc phải chịu án phí như trường hợp vụ án dân sự có giá ngạch đối với phần phat phạt cọc không được chấp nhận. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành các thủ tục để thụ lý yêu cầu của bị đơn Nguyễn Văn D, trong phần quyết định của bản án không giải quyết yêu cầu của bị đơn D và không tính án phí đối với yêu cầu này là vì phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
[2.3] Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thẩm nhận thấy Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án, vấn đề trên không thể khắc phục được tại cấp phúc thẩm. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 3 Điều 308, khoản 2 Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự hủy một phần bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình về phần nội dung: “Hủy hợp đồng đặt cọc về việc mua bán nhà đất ngày 13/5/2020 giữa bên đặt cọc là ông Nguyễn Xuân D và bên nhận cọc là ông Lê V C, ông Đoàn Trọng V; ông Đoàn Trọng V phải hoàn trả lại số tiền nhận cọc 150 triệu đồng cho ông Nguyễn Xuân D” và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Do hủy một phần bản án sơ thẩm của Tòa án cấp sơ thẩm liên quan đến nội dung kháng cáo của bị đơn nên yêu cầu của ông Nguyễn Văn D sẽ được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật khi Tòa án giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm
Ý kiến của của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Trong quá trình giải quyết vụ án, cùng với yêu cầu hủy hợp đồng đặt cọc, nguyên đơn đồng ý trả lại 150 triệu đồng tiền cọc đã nhận, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu này nhưng lại buộc nguyên đơn phải trả tiền án phí đối với số tiền cọc phải trả lại là không đúng với quy định tại khoản 4 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Tuy nhiên, do bản án sơ thẩm bị hủy một phần nên án phí dân sự sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác liên quan đến phần bản án sơ thẩm của Tòa án cấp sơ thẩm bị hủy được tính lại khi Tòa án giải quyết lại phần vụ án bị hủy theo thủ tục sơ thẩm.
[4]. Những phần bản án sơ thẩm của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 282 Bộ luật Tố tụng dân SỰ.
[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bản án sơ thẩm của Tòa án cấp sơ thẩm bị hủy một phần do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 10/2025/DS-PT NGÀY 14/3/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 10/2025/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn