
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp thừa kế về tài sản” và “ Tranh chấp yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” Tòa án cấp sơ thẩm xác định còn thiếu quan hệ pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết thì Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết đầy đủ cá hai mối quan hệ pháp luật trên nên cần rút kinh nghiệm. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân khu vực 10- Cần Thơ thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền. Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền của các đương sự là đúng quy định pháp luật. Người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt không lý do nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 xét xử vắng mặt theo quy định.
[2] Về nội dung:
Xét hàng thừa kế: Cụ Võ Văn T4 có tất cả là 11 người con (10 người còn sống và 01 người đã chết, cụ thể: ông Võ Văn M, ông Võ Văn T1, ông Võ Văn P(đã chết, các con của ông Pgồm: bà Võ Thị Kiều T5, bà Võ Thị Kiều L2, ông Võ Văn T3), ông Võ Hoàng T2, bà Võ Thị Lệ H. bà Võ Thị Lệ Đ1, bà Võ Thị Lệ M1, ông Võ Liêm C, bà Võ Thị Bé M2, bà Võ Thị Hồng C1, bà Võ Thị Hồng Đ. Những người kể trên là hàng thừa kế thứ nhất của cụ T4.
Xét về thời hiệu thừa kế: Các đương sự đều khai thống nhất là cụ Võ Văn T4, sinh năm 1924, chết ngày 11/12/2019 và thời điểm mở thừa kế là ngày 11/12/2019. Căn cứ Điều 623 của Bộ luật Dân sự thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn.
Xét về tài sản thừa kế: Nguyên đơn yêu cầu chia tài sản thừa kế là 1586,9m 2 Qua kết quả thẩm định có giá trị tài sản cây trồng là 1.586,9m² và giá trị đất đai là 274.584.000 đồng. Do các đương sự thống nhất giá trên, không ai yêu cầu thẩm định lại nên Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm căn cứ giá thẩm định trên làm cơ sở giải quyết là phù hợp. Tài sản thừa kế hiện không còn đứng tên cụ T4.
Xét yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn nhận thấy: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản thừa kế nhưng hiện tại tài sản thừa kế không còn đứng tên người để lại thừa kế là cụ Võ Văn T4. Nguyên đơn yêu cầu hủy hợp đồng tặng cho của cụ T4, phần tài sản cụ T4 hiện ông L4 đang đứng tên quyền sử dụng đất nên phải hủy giấy này và chia theo quy định pháp luật.
Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Vào ngày 18/7/2018, ông Võ Văn T4 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất để tặng cho toàn bộ phần đất tranh chấp (tại thửa đất số 24, tờ bản đồ số: 68, diện tích 1.615,2m², đất tọa lạc tại ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng) cho ông Võ Liêm C. Ông C đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN603699 ngày 30/8/2018. Bà Đ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên do ông T4 biết chữ, biết ký tên nhưng khi tặng cho thì lại lăn tay vào hợp đồng là không phản ánh đúng ý chí ông T4; ông Võ Văn T4 có tiền sử bệnh nặng, phải dùng thuốc điều trị có hồ sơ bệnh án 04/2019, đến ngày 11/12/2019 thì chết; việc chứng thực là chưa đúng quy định pháp luật và không khách quan vì thời điểm năm 2018 thì ông Võ Liêm Clà Phó Công an xã X; việc công chứng chứng thực không có người làm chứng là không đúng quy định pháp luật
Xét hợp đồng tặng cho trên nhận thấy: tại Công văn số 85/CV-TA ngày 27/03/2025 của UBND xã X xác nhận có nội dung: “1. Thời điểm ông Võ Văn T4 và ông Võ Liêm Chính xác L3 “hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” đối với thừa đất 24, tờ bản đồ số 48, đất tọa lạc: ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, chứng thực ngày 18/7/2018 thì ông Võ Văn T4 (sinh năm 1924) có đủ khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi khi điểm chỉ (lăn tay) vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên; 2. Ông Võ Văn T4 có nghe đọc lại toàn bộ nội dung hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, đồng thời ông cũng tự nguyện lăn tay vào hợp đồng tặng cho trước mặt người có thẩm quyền; 3. Việc chứng thực hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 18/7/2018 nêu trên là đúng trình tự theo quy định.”
Ngày 21/4/2025 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S có công văn số 969/STNMT-VPĐK có nội dung như sau: “Việc Sở T (nay là Sở N) tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CN 603699, ngày 30/8/2018 cho ông Võ Liêm C, thuộc thửa đất số 24, tờ bản đồ số 68, diện tích 1.615,2m, mục đích sử dụng: ONT 300m + CLN 1.315,2m, đất tọa lạc ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, thửa đất nêu trên được cấp là căn cứ theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được UBND xã X chứng thực số 89 ngày 18/7/2018 giữa ông Võ Văn T4 với ông Võ Liêm C. Việc cấp Giấy chứng nhận nêu trên là đúng theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ”
Như vậy, các cơ quan chức năng có thẩm quyền đối với việc sang tên đất đai từ ông Võ Văn T4 sang cho Võ Liêm C đều xác nhận rằng trình tự thủ tục lập hợp đồng tặng cho và cấp giấy chứng nhận cho ông Võ Liêm C đều đúng quy định pháp luật.
Hơn nữa, tại trang sau của Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất có ghi làm ông Võ Văn T4 có ký tên nhưng thực tế là ông Võ Văn T4 lăn tay, và để làm rõ vấn đề này thì Tòa án cũng đã đề nghị UBND xã X giải thích; và tại Công văn số 85/CV-TA ngày 27/03/2025 của UBND xã X cũng đã xác nhận rõ ràng là ông Võ Văn T4 có lăn tay trước mặt người có thẩm quyền; còn đối với việc làm chứng lăn tay, trong các biên bản lấy lời khai của ông M, ông T2, bà Đ1 đều xác nhận có tận mắt chứng kiến việc cha ruột là ông Võ Văn T4 tự nguyện tặng cho đất ông C và ngày 18/7/2018 có lăn tay vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất khi đến UBND xã công chứng hợp đồng tại UBND xã X
Mặc dù trong hợp đồng tặng cho không có chữ ký của người làm chứng là có thiếu sót về mặt hình thức, tuy nhiên người làm chứng tại thời điểm cấp giấy là các ông M, ông T2, bà Đ1 đã khai nhận; mặt khác các bên đã hoàn tất thực hiện toàn bộ hợp đồng, phần đất thửa số 24 cũng đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Võ Liêm C. Hơn nữa, hợp đồng tặng cho này thể hiện ý chí của cụ T4 muốn cho tặng cho ông C nên cụ T4 lăn tay, nghe rõ nội dung và cán bộ của Ủy ban nhân xã xác thực là phù hợp. Căn cứ theo Điều 129 Bộ Luật dân sự 2015 việc tặng cho giữa ông T4 và ông C vẫn đảm bảo đúng quy định pháp luật.
Xét khía cạnh khác thì thời điểm cụ T4, cụ B còn sống thì hai cụ cũng đã phân chia đất đai cho các con đầy đủ, thể hiện ý chí là ổn định các con đều có tài sản đồng đều, cụ thể: cho đất ông T2 bà M1 ngang bà Đ; và sau này bà Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH02306 ngày 23/3/2015 tại thửa đất số 77, tờ bản đồ số 69, diện tích 420,9m2, đất tọa lạc tại ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng (nguồn gốc nhận tặng cho); như vậy là khi còn sống thì cha mẹ cũng đã phân chia tài sản cho các con cái. Việc tặng cho của ông tám thể hiện ý chí và một số anh, chị em cũng đồng ý. Hơn nữa, cả một thời gian dài các đương sự không ai có ý kiến hay phản đối.
Ngày 26/10/2024, khi Công an tỉnh S, UBND huyện K, Công an huyện K, UBND xã X, Công an xã X lập Biên bản bàn giao đất xây dựng trụ sở Công an xã; khi thi công công trình trụ sở Công an xã X, thì Công an tỉnh S (cũ) và đơn vị thi công là Công ty TNHH M5 có tiến hành bơm cát, san lấp mặt bằng, thì tại thời điểm thi công, công ty TNHH M5 do ông Mai Hoàng Hoa M3 đã hỗ trợ cho bà Đ 2 triệu đồng để đơn vị thi công công trình nêu trên, như vậy, các anh em trong gia đình và cả bà Đ đều biết việc ông C hiến đất cho Công an xã X (diện tích hiến là 150m2, trong tổng số 1.240,5m2 của trụ sở) nhưng bà Đ không có ý kiến phản đối hiến đất tức là đã mặc nhiên công nhận phần đất tranh chấp nêu trên là của ông C. Do đó, bản án sơ thẩm đã bác yêu cầu của bà Đ, công nhận phần đất cho ông C là có căn cứ.
Đối với phần đất ông C đã hiến cho công an xã X nhưng về các thủ tục hành chính có liên quan về cập nhật biến động thì ông chưa thực hiện nên sau khi Tòa án giải quyết xong vụ án này thì ông sẽ tự nguyện phối hợp với Công an xã A tiến hành các thủ tục cần thiết để bàn giao, ông C không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết trong vụ án này.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thị Hồng Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch với số tiền là 300.000 đồng và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.818.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0009558 ngày 06/2/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Cần Thơ) như vậy bà Võ Thị Hồng Đ được hoàn lại số tiền 1.518.000 đồng.
[4] Chi phí tố tụng khác: Bà Võ Thị Hồng Đ phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản với số tiền là 14.600.000 đồng và đã thực hiện xong nên không phải nộp thêm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Đ chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001947 ngày 11/8/2025 thành tiền án phí tại Thi hành án dân sự thành phố Cần Thơ. Bà Đ đã nộp đủ.
[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[NGUỒN: BẢN ÁN SỐ 75/2026/DS-PT NGÀY 27/01/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 75/2026/DS-PT
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn