
Quyền sở hữu là một trong những quyền tài sản cơ bản được pháp luật dân sự ghi nhận và bảo vệ, bao gồm ba quyền năng cốt lõi: chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Tuy nhiên, quyền này không phải là tuyệt đối, mà luôn tồn tại trong một khuôn khổ pháp lý nhất định, nhằm cân bằng giữa lợi ích cá nhân của chủ sở hữu với lợi ích chung của cộng đồng và xã hội.
Khái niệm “giới hạn quyền sở hữu” được hiểu là việc pháp luật đặt ra những ranh giới cụ thể trong việc thực hiện các quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản. Mặc dù chủ sở hữu có toàn quyền định đoạt tài sản của mình theo ý chí, nhưng việc thực hiện quyền đó phải phù hợp với trật tự công, đạo đức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, cũng như không làm phương hại đến lợi ích của Nhà nước, cộng đồng.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, trong quá trình thực hiện quyền sở hữu, chủ sở hữu và các chủ thể có quyền khác đối với tài sản có thể bị giới hạn quyền trong một số trường hợp cụ thể, bao gồm: Tình thế cấp thiết; nghĩa vụ bảo vệ môi trường; đảm bảo trật tự, an toàn xã hội; tôn trọng quy hoạch, quy tắc xây dựng.
- Bị giới hạn trong tình thế cấp thiết
Tình thế cấp thiết được ghi nhận là một trong những căn cứ làm giới hạn quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản. Quy định tại Điều 171 Bộ luật Dân sự năm 2015 thể hiện rõ nguyên tắc này, khi trao quyền cho cá nhân có hành vi tác động đến tài sản của người khác để ngăn chặn một mối nguy hiểm lớn hơn đang đe dọa trực tiếp đến lợi ích công cộng hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân hay người khác.
Một sự kiện được coi là tình thế cấp thiết phải đáp ứng đồng thời ba điều kiện pháp lý cơ bản:
- Tồn tại một nguy cơ thực tế đang đe dọa trực tiếp, mang tính hiện hữu và chắc chắn xảy ra, đối với lợi ích công cộng, tính mạng, sức khỏe, tài sản hợp pháp của chính mình hoặc của người khác. Nguy cơ này có thể bắt nguồn từ hành vi con người, thiên tai, hoặc chính từ bản thân tài sản.
- Hành vi gây thiệt hại phải là biện pháp cuối cùng, duy nhất khả thi và có hiệu quả để phòng ngừa hoặc hạn chế hậu quả. Đây không chỉ là lựa chọn hợp lý trong hoàn cảnh cụ thể, mà còn là hành động được thực hiện trong trạng thái “không còn cách nào khác”, yêu cầu người thực hiện phải chứng minh tính hợp lý và cần thiết của hành vi đó.
- Thiệt hại gây ra phải nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn chặn. Mục tiêu của tình thế cấp thiết là tối thiểu hóa tổn thất. Do đó, người thực hiện hành vi gây thiệt hại cần chứng minh sự chênh lệch giữa hai loại thiệt hại trên phương diện định lượng cụ thể, ngoại trừ trường hợp liên quan đến tính mạng, sức khỏe con người.
Trong trường hợp này, chủ sở hữu không có quyền ngăn cản hành vi sử dụng hoặc gây thiệt hại tài sản của mình, nếu hành vi đó nhằm ngăn chặn nguy cơ lớn hơn. Hay nói cách khác, nghĩa vụ pháp lý của chủ sở hữu là “không hành động” không cản trở người khác sử dụng tài sản của mình trong tình huống cấp thiết.
Điều đáng chú ý là, hành vi gây thiệt hại trong tình thế cấp thiết không bị xem là hành vi xâm phạm quyền sở hữu. Thậm chí, nếu tài sản bị thiệt hại, chủ sở hữu vẫn được bồi thường theo cơ chế bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (theo Điều 595 BLDS), miễn là hành vi gây thiệt hại được chứng minh là thực hiện trong đúng khuôn khổ của tình thế cấp thiết.
Mặc dù pháp luật thừa nhận rằng thiệt hại gây ra trong tình thế cấp thiết không bị coi là hành vi xâm phạm quyền sở hữu hoặc quyền khác đối với tài sản, tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp người gây thiệt hại đều được miễn trách nhiệm bồi thường. Điều 595 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã quy định rõ các trường hợp phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại trong khuôn khổ tình thế cấp thiết, qua đó xác định ranh giới hợp pháp của việc giới hạn quyền sở hữu.
- Giới hạn do nghĩa vụ bảo vệ môi trường
Theo Điều 172 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi thực hiện quyền sở hữu hoặc quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền bắt buộc phải tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. Trường hợp hành vi sử dụng, chiếm hữu hoặc định đoạt tài sản dẫn đến việc gây ô nhiễm môi trường, thì chủ thể đó có nghĩa vụ chấm dứt hành vi vi phạm, áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả và bồi thường thiệt hại. Đây là một biểu hiện rõ ràng của việc giới hạn quyền sở hữu vì lý do môi trường là sự giới hạn hợp pháp vì lợi ích công cộng và an sinh xã hội.
Đáng chú ý, theo quy định tại Điều 602 Bộ luật Dân sự 2015, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do gây ô nhiễm môi trường là trách nhiệm pháp lý khách quan, không phụ thuộc vào yếu tố lỗi của chủ thể gây thiệt hại. Tức là, ngay cả khi người sử dụng tài sản không cố ý hoặc vô ý gây ra thiệt hại cho môi trường, họ vẫn có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ khắc phục và bồi thường. Đây là một thiết chế thể hiện tính nghiêm ngặt của pháp luật bảo vệ môi trường, đồng thời là biểu hiện sâu sắc của cơ chế giới hạn quyền sở hữu vì lợi ích chung.
Mặt khác, trong thực tiễn, việc sử dụng tài sản (như đất đai, nhà xưởng, máy móc, phương tiện…) để phát sinh hoạt động sản xuất, kinh doanh có thể tiềm ẩn nguy cơ làm phát thải, làm suy thoái chất lượng không khí, nước, đất hoặc hệ sinh thái. Khi đó, dù tài sản thuộc sở hữu hợp pháp, việc khai thác hoặc vận hành tài sản mà không tuân thủ đánh giá tác động môi trường, không có hệ thống xử lý chất thải hoặc không được cấp phép về môi trường cũng sẽ là hành vi bị pháp luật ngăn cấm, chế tài.
Như vậy, có thể khẳng định: quyền sở hữu tài sản bị giới hạn khi hành vi thực hiện quyền đó xâm phạm đến yếu tố môi trường, và giới hạn này không chỉ mang tính phòng ngừa thiệt hại, mà còn nhằm bảo đảm nguyên tắc phát triển bền vững, thể hiện vai trò điều tiết tích cực của pháp luật trong cân bằng giữa lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng.
3. Giới hạn do nghĩa vụ bảo vệ, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội của chủ sở hữu
Trật tự, an toàn xã hội là điều kiện tiên quyết cho sự ổn định và phát triển bền vững của bất kỳ quốc gia nào. Trong cấu trúc pháp luật hiện đại, trật tự xã hội không chỉ được thiết lập thông qua các biện pháp hành chính, hình sự, mà còn được đảm bảo bằng các quy định điều chỉnh hành vi dân sự, đặc biệt là việc thực hiện quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản.
Theo Điều 173 Bộ luật Dân sự 2015, khi thực hiện quyền sở hữu hoặc quyền khác đối với tài sản, chủ thể có quyền buộc phải tôn trọng, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, không được lạm dụng quyền để gây rối loạn trật tự công cộng, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng hoặc xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Quy định này thể hiện rõ ràng giới hạn của quyền sở hữu, đặt trong tương quan giữa quyền tư và lợi ích công.
Ở góc độ lý luận, quyền sở hữu dù là quyền tuyệt đối trong phạm vi nội dung của nó nhưng vẫn là một quyền bị giới hạn bởi nghĩa vụ xã hội. Quyền này không thể được thực hiện một cách tuyệt đối hóa, đặc biệt khi hành vi sử dụng, chiếm hữu hay định đoạt tài sản tạo ra hệ quả xấu đối với cộng đồng. Chẳng hạn, việc sử dụng tài sản (như đất, nhà, phương tiện, vật liệu…) để tổ chức hoạt động trái phép, tụ tập đông người gây mất an ninh trật tự, phát tán thông tin độc hại hoặc che giấu hành vi phạm tội mặc dù là thực hiện trong phạm vi tài sản của mình.
Nguyên tắc “lợi ích công cộng là giới hạn của quyền tư” được thể hiện ở chỗ: người dân có thể tự do sử dụng tài sản của mình, miễn là việc sử dụng đó không vi phạm quy chuẩn đạo đức xã hội, pháp luật hiện hành hoặc làm phương hại đến cộng đồng. Khi có xung đột giữa lợi ích tư và lợi ích công, thì quyền tư phải lùi bước để bảo đảm ưu tiên cho lợi ích công.
- Giới hạn do nghĩa vụ tuân thủ pháp luật về xây dựng
Điều 174 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi xây dựng công trình, chủ sở hữu hoặc người có quyền khác đối với tài sản phải tuân thủ các quy định của pháp luật xây dựng, bảo đảm các tiêu chí về an toàn kết cấu, giới hạn độ cao, khoảng cách công trình và đặc biệt là không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể có bất động sản liền kề hoặc xung quanh. Đây là sự cụ thể hóa nguyên tắc pháp lý “quyền của một người kết thúc tại nơi quyền của người khác bắt đầu”.
Về mặt lý luận, quyền sở hữu không thể được thực hiện một cách đơn độc trong không gian xã hội có tổ chức. Sự hình thành các khu dân cư, đô thị, khu công nghiệp kéo theo sự tương tác chặt chẽ giữa các chủ thể sở hữu tài sản liền kề. Từ đó, quyền xây dựng vốn là một biểu hiện của quyền định đoạt bị giới hạn bởi nguyên tắc “không gây bất lợi quá mức cho người khác”.
Các quy tắc xây dựng cụ thể là:
- Phải tuân thủ trình tự, thủ tục pháp luật về xây dựng, như xin giấy phép xây dựng, thẩm định thiết kế, giám sát thi công, v.v.;
- Không được xây dựng vượt quá giới hạn pháp luật quy định về độ cao, chiều rộng, khoảng lùi, hệ số sử dụng đất, nhằm bảo đảm quy hoạch và quyền tiếp cận ánh sáng, không khí, không gian sinh hoạt hợp lý;
- Phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu liền kề, đặc biệt tránh các thiệt hại như lún nứt công trình bên cạnh, chắn lối đi chung, hoặc gây nguy cơ mất an toàn.
Nếu các nghĩa vụ này bị vi phạm, chủ thể có thể phải gánh chịu chế tài đa tầng, bao gồm: Xử phạt hành chính, buộc tháo dỡ công trình vi phạm, chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự theo nguyên tắc trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng, trong trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các điều khoản của Bộ luật Hình sự
Kết lại, giới hạn quyền sở hữu không phải là sự phủ nhận quyền sở hữu, mà là cơ chế pháp lý bảo đảm cho quyền sở hữu được thực hiện một cách hài hòa, công bằng và bền vững trong cộng đồng xã hội. Trong tiến trình phát triển nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nhận thức và vận dụng đúng đắn cơ chế giới hạn quyền sở hữu sẽ góp phần quan trọng trong việc thiết lập trật tự pháp lý dân sự ổn định, công bằng và hiệu quả.
………………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn