Feel free to go with the truth

Trang chủ / BÀI VIẾT & ẤN PHẨM CỦA FDVN / HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TỈ LỆ PHẦN TRĂM THƯƠNG TẬT TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TỈ LỆ PHẦN TRĂM THƯƠNG TẬT TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

1. Về nguyên tắc giám định

Theo quy định tại Điều 2, Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 Quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần có quy định về nguyên tắc giám định như sau:

i. Giám định để xác định tỷ lệ % tổn thương cơ thể (TTCT) phải được thực hiện trên người cần giám định, trừ trường hợp được quy định tại mục (ii) dưới đây.

ii. Giám định để xác định tỷ lệ % TTCT được thực hiện trên hồ sơ trong trường hợp người cần giám định đã bị chết hoặc bị mất tích hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

iii. Khi giám định trên hồ sơ, tỷ lệ % TTCT được xác định ở mức thấp nhất của khung tỷ lệ tương ứng với các tỷ lệ % TTCT.

iv. Tỷ lệ % TTCT được xác định tại thời điểm giám định.

2. Nguyên tắc xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể

Việc xác định tỷ lệ phần trăm (%) tổn thương cơ thể có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá hậu quả của hành vi xâm phạm sức khỏe, đồng thời là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét trách nhiệm hình sự và các vấn đề pháp lý có liên quan. Theo Điều 3 Thông tư số 22/2019/TT-BYT, việc xác định tỷ lệ % tổn thương cơ thể phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định, nhằm bảo đảm kết quả giám định phản ánh đúng tính chất, mức độ và hậu quả thực tế của thương tích. Cụ thể các nguyên tắc như sau:

a) Tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể của một người phải nhỏ hơn 100%.

b) Mỗi bộ phận cơ thể bị tổn thương chỉ được tính tỷ lệ % tổn thương cơ thể một lần.

Trường hợp bộ phận này bị tổn thương nhưng gây biến chứng, di chứng sang bộ phận thứ hai đã được xác định thì tính thêm tỷ lệ % tổn thương cơ thể do biến chứng, di chứng tổn thương ở bộ phận thứ hai.

c) Nếu nhiều tổn thương cơ thể là triệu chứng thuộc một hội chứng hoặc thuộc một bệnh đã được ghi trong các Bảng tỷ lệ % tổn thương cơ thể thì tỷ lệ % tổn thương cơ thể được xác định theo hội chứng hoặc theo bệnh đó.

d) Khi tính tỷ lệ % tổn thương cơ thể chỉ lấy đến hai chữ số hàng thập phân, ở kết quả cuối cùng thì làm tròn để có tổng tỷ lệ % tổn thương cơ thể là số nguyên (nếu số hàng thập phân bằng hoặc lớn hơn 0,5 thì làm tròn số thành 01 đơn vị).

e) Khi tính tỷ lệ % tổn thương cơ thể của một bộ phận cơ thể có tính chất đối xứng, hiệp đồng chức năng mà một bên bị tổn thương hoặc bệnh lý có sẵn đã được xác định, thì tính cả tỷ lệ % tổn thương cơ thể đối với bộ phận bị tổn thương hoặc bệnh lý có sẵn đó.

f) Khi giám định, căn cứ tổn thương thực tế và mức độ ảnh hưởng của tổn thương đến cuộc sống, nghề nghiệp của người cần giám định, giám định viên đánh giá, xác định tỷ lệ % tổn thương cơ thể trong khung tỷ lệ tương ứng với Bảng tỷ lệ % tổn thương cơ thể.

g) Đối với các bộ phận cơ thể đã bị mất chức năng, nay bị tổn thương thì tỷ lệ % tổn thương cơ thể được tính bằng 30% tỷ lệ % tổn thương cơ thể của bộ phận đó.

h)Trường hợp trên cùng một người cần giám định mà vừa phải giám định pháp y lại vừa phải giám định pháp y tâm thần (theo quyết định trưng cầu/yêu cầu), thì tổ chức giám định thực hiện giám định sau tổng hợp (cộng) tỷ lệ % tổn thương cơ thể của người cần giám định theo phương pháp xác định tỷ lệ % tổn thương cơ thể.

Từ các nguyên tắc trên có thể thấy, tỷ lệ % tổn thương cơ thể không phải là kết quả của việc cộng đơn thuần tỷ lệ của tất cả các thương tích, mà phải được xác định theo phương pháp chuyên môn, trên cơ sở từng tổn thương, biến chứng, di chứng, mức độ ảnh hưởng đến chức năng cơ thể và tình trạng thực tế của người được giám định. Vì vậy, khi đánh giá một kết luận giám định thương tích, cần xem xét không chỉ tỷ lệ % được kết luận cuối cùng mà còn phải kiểm tra căn cứ xác định từng thương tích, cách áp dụng Bảng tỷ lệ % tổn thương cơ thể[1], nguyên tắc tổng hợp tỷ lệ và việc có xảy ra tính trùng hoặc bỏ sót tổn thương hay không.

3. Phương pháp xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể

Căn cứ theo quy định tại Điều 4 Thông tư 22/2019/TT-BYT thì việc xác định tỷ lệ % TTCT được tính theo phương pháp cộng như sau:

Tổng tỷ lệ % TTCT = T1 + T2 + T3 +…+ Tn

Trong đó:

– T1: Được xác định là tỷ lệ % TTCT của TTCT thứ nhất (nằm trong khung tỷ lệ các TTCT được quy định tại Thông tư này).

– T2: là tỷ lệ % của TTCT thứ hai: T2 = (100 – T1) x tỷ lệ % TTCT thứ 2/100;

– T3: là tỷ lệ % của TTCT thứ ba: T3 = (100-T1-T2) x tỷ lệ % TTCT thứ 3/100;

– Tn: là tỷ lệ % của TTCT thứ n: Tn – {100-T1-T2-T3-…-T(n-1)} x tỷ lệ % TTCT thứ n/100.

– Tổng tỷ lệ % TTCT sau khi được làm tròn số là kết quả cuối cùng.

Ví dụ:

* Một đối tượng có nhiều tổn thương: Ông Nguyễn Văn A được xác định có 03 tổn thương: Cụt 1/3 giữa cánh tay phải, khung tỷ lệ % TTCT từ 61 – 65%; Mù mắt trái chưa khoét bỏ nhãn cầu, tỷ lệ % TTCT là 41 %; Nghe kém trung bình hai tai mức độ I, tỷ lệ % TTCT từ 21 – 25%.

Áp dụng phương pháp nêu trên, tổng tỷ lệ % TTCT của ông Nguyễn Văn A được tính như sau:

– T1 = 63% (tỷ lệ % TTCT quy định tại Thông tư này từ 61-65%, giám định viên có thể đánh giá, xác định tỷ lệ % TTCT là 61%, 62%, 63%, 64% hoặc 65%. Ví dụ trường hợp này giám định viên lấy tỷ lệ TTCT là 63%).

– T2 = (100 -63) x 41/100% = 15,17%.

– T3: Nghe kém trung bình hai tai mức độ 1, tỷ lệ % TTCT được quy định trong Thông tư này từ 21% – 25%. Giám định viên có thể đánh giá, xác định tỷ lệ % TTCT trong khoảng từ 21% đến 25%. Ví dụ trường hợp này giám định viên lấy tỷ lệ % TTCT là 22%, thì tỷ lệ % TTCT của ông A được tính là:

T3 = (100 – 63 – 15,17) x 22/100 % = 4,80%

Tổng tỷ lệ % TTCT của ông Nguyễn Văn A là : 63% + 15,17 % + 4,80% = 82,97 %, làm tròn số là 83%.

Kết luận: Tổng tỷ lệ % TTCT của ông Nguyễn Văn A là 83%.

* Một người cần phải giám định tại hai tổ chức: (1) Giám định pháp y và (2) Giám định pháp y tâm thần:

Ông Nguyễn Văn B (ông B) đã được tổ chức giám định pháp y giám định với kết luận tổng tỷ lệ % TTCT là 45% (T1). Sau đó ông B đến giám định tại tổ chức giám định pháp y tâm thần, tổ chức này kết luận tỷ lệ % TTCT là của ông B là 37%, tổ chức giám định pháp y tâm thần này tổng hợp tổng tỷ lệ % TTCT của ông B như sau:

T1 đã được xác định là 45 %; T2 được xác định như sau:

T2 = (100 – 45) x 37/100 = 20,35 %.

Tổng tỷ lệ % TTCT của ông B là = (T1+T2).

Tổng tỷ lệ % TTCT của ông Nguyễn Văn B là: 45 % + 20,35 % = 65,35 %.

Kết luận: Tổng tỷ lệ % TTCT của ông Nguyễn Văn B là 65 %.

Trên đây là hướng dẫn của FDVN trên cơ sở các quy định pháp luật hiện hành. Hy vọng nội dung hướng dẫn này sẽ giúp Quý Khách nắm rõ hơn quy định pháp luật.

[1] Bảng 1: Tỷ lệ % TTCT do thương tích sử dụng trong giám định pháp y; Bảng 2: Tỷ lệ % TTCT do bệnh, tật sử dụng trong giám định pháp y; Bảng 3: Tỷ lệ % TTCT do di chứng rối loạn tâm thần và hành vi sau chấn thương, vết thương sọ não sử dụng trong giám định pháp y tâm thần ban hành kèm theo Thông tư 22/2019/TT-BYT Thông tư quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần.

…………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan