Feel free to go with the truth

Trang chủ / BÀI VIẾT & ẤN PHẨM CỦA FDVN / 7 ĐIỂM MỚI CỦA NGHỊ ĐỊNH 283/2026/NĐ-CP VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG, BẢO HIỂM XÃ HỘI, NGƯỜI VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC TẠI NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG

7 ĐIỂM MỚI CỦA NGHỊ ĐỊNH 283/2026/NĐ-CP VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC LAO ĐỘNG, BẢO HIỂM XÃ HỘI, NGƯỜI VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC TẠI NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG

  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Ngày 15/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 283/2026/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có hiệu lực từ ngày 10/9/2026 và thay thế Nghị định số 12/2022/NĐ-CP. Sự ra đời của Nghị định 283/2026/NĐ-CP đánh dấu một bước điều chỉnh quan trọng trong cơ chế xử phạt vi phạm hành chính đối với các quan hệ lao động và bảo hiểm xã hội, trong bối cảnh hệ thống pháp luật có nhiều thay đổi với việc ban hành, sửa đổi các đạo luật có liên quan, đặc biệt là Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, pháp luật về việc làm, công đoàn và xử lý vi phạm hành chính.

So với Nghị định 12/2022/NĐ-CP, Nghị định 283/2026/NĐ-CP không chỉ kế thừa và điều chỉnh các quy định xử phạt đã được áp dụng trong thời gian qua mà còn bổ sung nhiều hành vi vi phạm mới, điều chỉnh cách thức phân loại và xử lý một số hành vi, đồng thời cập nhật mức phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả cho phù hợp với quy định pháp luật hiện hành. Đáng chú ý, trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, Nghị định mới thể hiện rõ hơn sự phân biệt giữa hành vi chậm đóng và trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; tăng cường chế tài đối với hành vi đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội thấp hơn quy định; đồng thời bổ sung các quy định liên quan đến việc quản lý, sử dụng dữ liệu người lao động, quyền của người lao động, tổ chức đại diện người lao động và một số vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn quản lý lao động.

  1. 7 ĐIỂM MỚI CỦA NGHỊ ĐỊNH 283/2026/NĐ-CP

Những thay đổi của Nghị định 283/2026/NĐ-CP không đơn thuần là sự thay thế về mặt kỹ thuật đối với Nghị định 12/2022/NĐ-CP mà còn phản ánh sự thay đổi trong tư duy quản lý nhà nước về lao động và bảo hiểm xã hội theo hướng tăng cường tính tuân thủ, minh bạch và trách nhiệm của người sử dụng lao động. Vì vậy, việc nghiên cứu và đối chiếu hai nghị định có ý nghĩa thiết thực đối với doanh nghiệp, người sử dụng lao động, người lao động nhằm nhận diện những quy định được giữ nguyên, những quy định được sửa đổi, bổ sung và những hành vi vi phạm mới được đặt ra trong Nghị định 283/2026/NĐ-CP. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp có thể chủ động rà soát, điều chỉnh quy trình quản trị nhân sự, tiền lương, bảo hiểm xã hội và các hoạt động liên quan để hạn chế rủi ro pháp lý khi Nghị định mới chính thức có hiệu lực.

  1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định 283/2026/NĐ-CP không mở rộng phạm vi điều chỉnh theo hướng bổ sung một lĩnh vực quản lý hoàn toàn mới so với Nghị định 12/2022/NĐ-CP, mà chủ yếu là tái cấu trúc và cụ thể hóa phạm vi điều chỉnh trong ba lĩnh vực vốn đã được Nghị định 12/2022/NĐ-CP điều chỉnh. Điểm tiến bộ nằm ở việc xác định rõ các nhóm quan hệ thuộc lĩnh vực lao động, đặc biệt là việc làm, tuyển dụng và quản lý lao động; điều kiện lao động và quan hệ lao động; an toàn, vệ sinh lao động; tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở. Đồng thời, Nghị định 283/2026/NĐ-CP  xác lập rõ hơn nguyên tắc phân định với các nghị định xử phạt chuyên ngành khác, theo đó những hành vi không được quy định tại Nghị định 283/2026/NĐ-CP sẽ được áp dụng theo quy định xử phạt trong lĩnh vực quản lý nhà nước có liên quan. Cách quy định này góp phần làm rõ phạm vi áp dụng của nghị định và hạn chế việc áp dụng chế tài xử phạt một cách chồng lấn hoặc thiếu căn cứ pháp lý.

  1. Quy định mới về thời hiệu xử phạt

Nghị định 283/2026/NĐ-CP đã có sự thay đổi theo hướng quy định cụ thể hơn so với quy định trước đây. Theo quy định trước đây, tại khoản 1, Điều 5 Nghị định 12/2022/NĐ-CP thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được xác định theo khoản 1 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Tại khoản 4, Điều 3 Nghị định 283/2026/NĐ-CP quy định Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính  là 01 năm đối với vi phạm hành chính về lao động, bảo hiểm xã hội; là 02 năm đối với vi phạm hành chính về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Quy định này giúp việc áp dụng pháp luật thuận lợi và minh bạch hơn, đặc biệt trong việc xác định một hành vi còn trong thời hiệu xử phạt hay đã hết thời hiệu.

  1. Quy định mới về chuyển hồ sơ có dấu hiệu tội phạm

Nghị định 12/2022/NĐ-CP có quy định về thủ tục xử phạt và việc chuyển hồ sơ theo quy định chung của Luật Xử lý vi phạm hành chính, trong đó Điều 62 của Luật quy định nguyên tắc: khi xét thấy hành vi có dấu hiệu tội phạm thì người có thẩm quyền phải chuyển hồ sơ cho cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Tuy nhiên, Nghị định 12/2022/NĐ-CP không có một điều khoản riêng liệt kê cụ thể các nhóm hành vi trong lĩnh vực lao động, BHXH và đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài mà khi có dấu hiệu tội phạm thì phải chuyển hồ sơ. Tại Điều 4 Nghị định 283/2026/NĐ-CP để quy định về việc chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm. Đáng chú ý, khoản 2 Điều 4 đã xác định cụ thể các nhóm hành vi mà trong quá trình xem xét, xử lý, nếu có dấu hiệu tội phạm thì người có thẩm quyền phải chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự theo Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Các hành vi này bao gồm hành vi giả mạo hoặc sử dụng giấy tờ, tài liệu giả; khai thác, chia sẻ, sử dụng trái phép dữ liệu về người lao động và thị trường lao động; mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép dữ liệu; xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm của người lao động khi xử lý kỷ luật; tổ chức xuất cảnh trái phép, bóc lột, cưỡng bức lao động; cưỡng ép, lôi kéo, dụ dỗ hoặc lừa gạt người lao động ở lại nước ngoài trái phép; cũng như một số trường hợp tái phạm về cưỡng bức lao động, sử dụng lao động chưa thành niên và đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp. Nghị định 283/2026/NĐ-CP không chỉ xác định chiều chuyển hồ sơ từ xử lý vi phạm hành chính sang tố tụng hình sự mà còn quy định cơ chế xử lý trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng hình sự không truy cứu trách nhiệm hình sự. Như vậy, quy định mới tạo thành một cơ chế tương đối đầy đủ: từ xử lý hành chính → phát hiện dấu hiệu tội phạm → chuyển sang tố tụng hình sự → nếu không xử lý hình sự thì chuyển trở lại để xử phạt hành chính.

  1. Quy định mới về xử phạt trên môi trường điện tử

Nghị định 283/2026/NĐ-CP bổ sung cơ chế xử lý vi phạm hành chính trên môi trường điện tử tại Điều 6. Theo đó, việc xử lý vi phạm trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được thực hiện theo Điều 18a Luật Xử lý vi phạm hành chính và Chương IIIa Nghị định 118/2021/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 68/2025/NĐ-CP và Nghị định 190/2025/NĐ-CP. Quy định này không tạo ra một hình thức xử phạt mới mà tạo cơ sở pháp lý để chuyển phương thức thực hiện thủ tục xử phạt từ hồ sơ, giao dịch trực tiếp sang môi trường điện tử khi đáp ứng các điều kiện về hạ tầng, hệ thống thông tin, xác thực danh tính và chữ ký số. Đáng chú ý, trường hợp không sử dụng được chữ ký số, pháp luật cho phép xác thực bằng phương thức sinh trắc học theo quy định. Đây là bước chuyển quan trọng từ việc số hóa hồ sơ sang số hóa quy trình xử lý vi phạm hành chính, qua đó tạo thuận lợi cho cả cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với doanh nghiệp trong việc quản lý thông tin điện tử, người đại diện, tài khoản và thời hạn thực hiện các quyền, nghĩa vụ trong quá trình xử lý vi phạm. Đây là một thay đổi đáng kể về phương thức thực thi pháp luật so với Nghị định 12/2022/NĐ-CP.

  1. Quy định mới về quản lý dữ liệu người lao động

Một trong những điểm mới đáng chú ý của Nghị định 283/2026/NĐ-CP là lần đầu tiên bổ sung chế tài riêng đối với các hành vi xâm phạm thông tin, dữ liệu trong lĩnh vực việc làm. Theo khoản 2 Điều 10, hành vi khai thác, chia sẻ, sử dụng trái phép thông tin, dữ liệu trong cơ sở dữ liệu về người lao động và thông tin về thị trường lao động chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền công bố, phổ biến, nếu chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, bị phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 40 triệu đồng; trường hợp mua bán, trao đổi, chiếm đoạt trái phép các thông tin, dữ liệu này có thể bị phạt từ 50 triệu đồng đến 70 triệu đồng theo điểm c khoản 4 Điều 10. So với Nghị định 12/2022/NĐ-CP, đây là một nhóm hành vi mới được quy định tương đối rõ trong hệ thống xử phạt về lao động, cho thấy phạm vi quản lý nhà nước về việc làm đã được mở rộng theo hướng coi dữ liệu người lao động là một đối tượng cần được kiểm soát về mặt pháp lý. Vì vậy, bên cạnh việc tuân thủ các quy định truyền thống về hợp đồng lao động, tiền lương và BHXH, doanh nghiệp cần rà soát việc thu thập, lưu trữ, khai thác và chia sẻ hồ sơ nhân viên, dữ liệu tuyển dụng, CV, thông tin tiền lương, BHXH và dữ liệu trên hệ thống quản trị nhân sự, đặc biệt khi chia sẻ cho công ty mẹ, công ty liên kết hoặc các đơn vị cung cấp dịch vụ nhân sự. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Điều 10 chỉ điều chỉnh những loại dữ liệu được quy định cụ thể, do đó không nên đồng nhất quy định này với toàn bộ hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân của doanh nghiệp.

  1. Quy định mới về đăng ký, điều chỉnh thông tin

Nghị định 283/NĐ-CP bổ sung Điều 12 – Vi phạm quy định về đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động. Theo đó, NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc không cung cấp, cung cấp không đầy đủ hoặc không chính xác thông tin để đăng ký lao động bị phạt từ 1–2 triệu đồng. Người sử dụng lao động không đăng ký, điều chỉnh thông tin đăng ký lao động cho NLĐ khi nộp hồ sơ đăng ký/điều chỉnh tham gia BHXH:

Từ 1–50 NLĐ phạt 5–10 triệu đồng;

Từ 51–100 NLĐ phạt 10–15 triệu đồng;

Từ 101 NLĐ trở lên phạt 15–20 triệu đồng.

  1. Một số thay đổi khi quy định xử phạt trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

Một trong những thay đổi quan trọng nhất của Nghị định 283/2026/NĐ-CP so với Nghị định 12/2022/NĐ-CP nằm ở việc phân định rõ hành vi chậm đóng và trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, phù hợp với cách tiếp cận mới của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Theo Nghị định 12/2022/NĐ-CP, các hành vi chậm đóng, đóng không đúng mức, đóng không đủ số người tham gia mà không phải là trốn đóng được quy định chung tại khoản 5 Điều 39, với mức phạt từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng BHXH, BHTN tại thời điểm lập biên bản, tối đa 75 triệu đồng; trong khi hành vi trốn đóng BHXH, BHTN nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 7 Điều 39, với mức phạt từ 50 triệu đến 75 triệu đồng. Cách quy định này trên thực tế gây khó khăn cho việc xác định ranh giới giữa “đóng không đủ” và “trốn đóng”, đặc biệt khi cơ quan có thẩm quyền phải chứng minh yếu tố trốn tránh nghĩa vụ đóng. Chính cơ quan BHXH cũng từng đánh giá rằng việc xác định hành vi trốn đóng theo Nghị định 12 còn gặp vướng mắc, dẫn đến khó xử phạt trong thực tế.

Từ ngày 10/9/2026, Nghị định 283/2026/NĐ-CP thay đổi cách tiếp cận này khi dành Điều 43 để quy định riêng về chậm đóng BHXH bắt buộc và Điều 44 để quy định riêng về trốn đóng BHXH bắt buộc. Theo Điều 43, hành vi chậm đóng được gắn với thời hạn đóng BHXH theo Điều 34 Luật BHXH 2024 và được phân biệt với những trường hợp đủ điều kiện cấu thành “trốn đóng”. Đáng chú ý, Nghị định 283/2026/NĐ-CP còn quy định cảnh cáo đối với một số trường hợp có số tiền vi phạm dưới 400.000 đồng; đối với các trường hợp thuộc khoản 3 Điều 43, mức phạt được tính theo tỷ lệ 12% đến 15% tổng số tiền BHXH bắt buộc chậm đóng, tối đa 75 triệu đồng. Đồng thời, biện pháp khắc phục hậu quả được xác định rõ là buộc đóng đủ số tiền BHXH chậm đóng và nộp thêm khoản tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền chậm đóng và số ngày chậm đóng vào quỹ BHXH.

Đối với trốn đóng, Nghị định 283/2026/NĐ-CP thể hiện sự thay đổi rõ nét hơn. Điều 44 không còn chỉ quy định chung hành vi “trốn đóng BHXH” mà cụ thể hóa các trường hợp được coi là trốn đóng và xây dựng mức phạt dựa trên tính chất, quy mô vi phạm. Trường hợp người sử dụng lao động không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người thuộc diện tham gia BHXH sau thời hạn luật định, mức phạt được phân theo số lượng người lao động vi phạm, từ 6–12 triệu đồng đối với dưới 10 người đến 70–75 triệu đồng đối với từ 1.000 người trở lên. Đặc biệt, hành vi đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng BHXH thấp hơn quy định, hoặc không đóng/đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký sau 60 ngày kể từ thời hạn đóng và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc nhưng vẫn thuộc trường hợp trốn đóng, có thể bị phạt 18% đến 20% tổng số tiền trốn đóng, tối đa 75 triệu đồng.

Điểm đáng chú ý nhất ở đây là Nghị định 283/2026/NĐ-CP đã định lượng hóa và gắn hành vi trốn đóng với những mốc thời gian, nghĩa vụ đăng ký và hành vi cụ thể, thay vì chủ yếu dựa vào việc phân biệt “đóng không đúng, không đủ mà không phải trốn đóng” với “trốn đóng” như Nghị định 12/2022/NĐ-CP. Chẳng hạn, việc người sử dụng lao động đăng ký mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH thấp hơn quy định nay được xác định rõ trong nhóm hành vi có thể bị xử phạt về trốn đóng. Đây là thay đổi có ý nghĩa thực tiễn rất lớn, bởi tình trạng doanh nghiệp khai mức lương đóng BHXH thấp hơn tiền lương thực tế là một trong những vấn đề gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi BHXH của người lao động.

Như vậy, nếu Nghị định 12/2022/NĐ-CP chủ yếu tập trung vào xử phạt hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH, thì Nghị định 283/2026/NĐ-CP đã tiến thêm một bước: xác lập một cơ chế phân loại rõ hơn giữa chậm đóng và trốn đóng, gắn trách nhiệm của người sử dụng lao động với thời hạn đóng, hồ sơ đăng ký, số lượng người tham gia, tiền lương làm căn cứ đóng và việc đôn đốc của cơ quan có thẩm quyền. Đồng thời, cả hai nhóm hành vi đều gắn với nghĩa vụ khắc phục bằng việc đóng đủ số tiền còn thiếu và nộp khoản tiền 0,03%/ngày trên số tiền chậm đóng hoặc trốn đóng theo quy định mới. Điều này cho thấy chính sách xử phạt từ ngày 10/9/2026 chuyển mạnh từ việc chỉ xử lý hậu quả của tình trạng nợ BHXH sang phòng ngừa, nhận diện và phân loại sớm hành vi vi phạm, qua đó tăng trách nhiệm tuân thủ của người sử dụng lao động và bảo vệ tốt hơn quyền lợi BHXH của người lao động.

  1. KẾT LUẬN

Tóm lại, Nghị định số 283/2026/NĐ-CP không đơn thuần là sự thay thế về mặt kỹ thuật đối với Nghị định số 12/2022/NĐ-CP mà còn thể hiện sự điều chỉnh tương đối toàn diện chính sách xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội và người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Nghị định 283/2026/NĐ-CP đã thể hiện rõ yêu cầu đồng bộ hóa pháp luật xử phạt với những thay đổi của pháp luật chuyên ngành trong xu thế các văn bản luật đang được sửa đổi bổ sung trong thời kỳ mới. Nghị định 283/2026/NĐ-CP được ban hành ngày 15/7/2026 và có hiệu lực từ ngày 10/9/2026, thay thế Nghị định 12/2022/NĐ-CP.

…………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan