Feel free to go with the truth

Trang chủ / Kinh doanh & Thương mại / TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH THƯƠNG MẠI

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH THƯƠNG MẠI

FDVN trân trọng giới thiệu tài liệu “TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH THƯƠNG MẠI” do các Luật sư/ Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp.

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

XEM TOÀN BỘ BẢN ÁN VÀ TẢI FILE PDF: TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH THƯƠNG MẠI

MỤC LỤC

TỔNG HỢP 20 BẢN ÁN VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH THƯƠNG MẠI

STT

NỘI DUNG TÓM TẮT

SỐ TRANG
Bản án số: 03/2021/KDTM-ST ngày: 18/01/2021 Về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ

(Hợp đồng khám sức khỏe cho nhân viên công ty)

Nội dung vụ án:

Ngày 05/7/2018, Công ty TNHH MTV Khám chữa bệnh Đa khoa PH (gọi tắt Công ty PH) và Công ty TNHH Dịch vụ D (gọi tắt là Công ty D) ký hợp đồng dịch vụ số 37/HĐKSK-CTPH.2018 về việc khám sức khỏe cho nhân viên công ty D. Ngày 07/7/2018 việc khám sức khỏe đã được Công ty PH thực hiện xong với tổng số tiền là 31.204.500 đồng. Ngày 09/7/2018 Công ty PH đã xuất hóa đơn GTGT số 0000650 cho Công ty D, đã bàn giao hóa đơn có lập giấy xác nhận với Công ty D, đã thanh lý hợp đồng, bảng tổng hợp kết quả khám sức khỏe cùng 71  sổ khám sức khỏe định kỳ cho Công ty D theo đúng thỏa thuận hợp đồng. Công ty PH nhiều lần yêu cầu thanh toán nhưng Công ty D chưa thanh toán tiền cho Công ty PH theo thỏa thuận. Công ty PH khởi kiện yêu cầu Công ty D trả cho Công ty PH số tiền gốc là 31.204.500 đồng và tiền lãi phát sinh chậm trả theo mức lãi suất 0,83%/tháng tính từ ngày 10/8/2018 đến ngày 11/01/2021 là 7.510.923 đồng. Tổng cộng là 38.715.423 đồng

Nhận định của Tòa án:

  • Đối với nợ gốc: Các bên thừa nhận nợ và Công ty D mong muốn được chia khoản nợ trả trong 4 kỳ.Yêu cầu này của công ty D không được Công ty PH chấp nhận. Công ty D thừa nhận nợ nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự đây là tính tiết không phải chứng minh. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty PH buộc Công ty D phải trả cho Công ty PH số tiền gốc 31.204.500 đồng.
  • Đối với nợ lãi: Công ty PH yêu cầu Công ty D trả tiền lãi trên số tiền chậm trả 31.204.500 đồng theo mức lãi suất 0,83%/tháng là thấp hơn mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán. Công ty PH yêu cầu tính lãi từ ngày 10/8/2018 đến ngày 11/01/2021 là 29 tháng. Xét yêu cầu của nguyên đơn tính tiền lãi làm tròn 29 tháng và mức lãi suất 0,83%/tháng là có lợi hơn cho Công ty D nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Số tiền lãi tính đến ngày 11/01/2021 là 31.204.500 đồng x 0,83%/tháng x 29 tháng = 7.510.000 đồng. Tổng cộng gốc và lãi là 38.715.423 đồng.

Tòa án nhân dân quyết định:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH MTV Khám  chữa bệnh Đa khoa PH. Buộc bị đơn Công ty TNHH Dịch vụ D có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH MTV Khám chữa bệnh Đa khoa PH số tiền là 38.715.423 đồng.

01-05

Bản án số: 12/2021/KDTM-PT Ngày 05-02-2021 V/v Tranh chấp hợp đồng dịch vụ.

(Hợp đồng dịch vụ xử lý nước thải)

Nội dung vụ án:

Ngày 01/9/2014, Công ty trách nhiệm hữu hạn R (sau đây gọi tắt là Công ty R) và Công ty cổ phần P1 (sau đây gọi tắt là I) ký kết Hợp đồng dịch vụ xử lý nước thải số 63/HĐ-XLNT (sau đây gọi tắt là Hợp đồng số 63), kèm theo hợp đồng là Phụ lục 01 và 02. Theo đó, I sẽ xử lý nước thải của Công ty R xả vào hệ thống xử lý nước thải của I đạt tiêu chuẩn trước khi xả thải ra môi trường. Hợp đồng được thực hiện từ khi ký kết đến cuối tháng 11/2017 thì Công ty R phát hiện I tính phí xử lý nước thải của năm 2017 sai quy định. Từ tháng 01 đến tháng 10/2017, I đã tính phí xử lý nước thải vượt mức quy định số tiền 431.358.850 đồng. Ngày 09/8/2018, Công ty R và I ký Phụ lục số 01, theo đó nâng giá cơ bản xử lý nước thải lên 7.677 đồng/m3. Công ty R thừa nhận giá trị pháp lý của Hợp đồng số 63 nhưng không thừa nhận giá trị pháp lý của Phụ lục ngày 09/8/2018 kèm theo hợp đồng này bởi vì Phụ lục này do ông K ký mà không được sự ủy quyền của người đại diện theo pháp luật của Công ty. Công ty R yêu cầu I trả lại số tiền phí xử lý nước thải đã thanh toán vượt mức trong năm 2017 là 431.358.850 đồng.

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2020/KDTM-ST ngày 27 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã T, tỉnh Tây Ninh đã quyết định: “Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn R về việc yêu cầu Công ty cổ phần P1 hoàn trả số tiền 431.358.850 đồng.

Ngày 08/9/2020, Công ty trách nhiệm hữu hạn R có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết đưa UBND tỉnh Tây Ninh tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chỉ chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn về việc tính giá dịch vụ xử lý nước thải theo chỉ tiêu COD, bác yêu cầu phản tố của bị đơn về việc chấm dứt thực hiện Hợp đồng xử lý nước thải số 63/HĐ-XLNT và các Phụ lục kèm theo.

Nhận định của Tòa án:

– Ngày 01/9/2014, Công ty R (người ký là ông Wu Zhen Yu- Giám đốc) và I ký kết hợp đồng dịch vụ xử lý nước thải số 63/HĐ-XLNT, kèm theo hợp đồng là Phụ lục 01 và 02; các đương sự thống nhất thừa nhận giá trị pháp lý của hợp đồng và 2 phụ lục kèm theo hợp đồng này. Thực tế 2 bên đã thực hiện đúng các điều khoản trong hợp đồng đến tháng 10/2017 mà không phát sinh tranh chấp.

– Xét phụ lục hợp đồng, Công ty R kháng cáo cho rằng Phụ lục hợp đồng số 01 là không có giá trị pháp lý do ông Chung Quốc K không có thẩm quyền ký, Hội đồng xét xử xét thấy tại BL 107 ông Chung Quốc K được giám đốc Công ty R ủy quyền ký hợp đồng kinh tế; Phụ lục hợp đồng là một phần của hợp đồng và không thể tách rời hợp đồng nên việc ông K ký Phụ lục hợp đồng đối với Hợp đồng số 63 là nằm trong phạm vi ủy quyền của mình. Việc thỏa thuận điều chỉnh giá xử lý nước thải cơ bản lên 7.677 đồng/m3 phù hợp với Công văn số 1707/LS-XD-TC ngày 27/6/2018 của liên sở Xây dựng- Tài chính về việc thỏa thuận giá dịch vụ thoát nước tại nhà máy xử lý nước thải tập trung Khu công nghiệp T công suất 7.500 m3/ngày.đêm. Công ty R và I thỏa thuận điều chỉnh giá phù hợp với nhu cầu thực tế, trên cơ sở tinh thần tự nguyện thỏa thuận, không trái quy định của pháp luật. Ngoài ra, kể từ khi ký Phụ lục hợp đồng này, 2 bên đã tiến hành tính phí theo giá mới, phía Công ty R không có văn bản nào phản hồi về việc ông K không có thẩm quyền ký Phụ lục hợp đồng. Do đó, Phụ lục hợp đồng trên là có giá trị pháp lý và không có căn cứ chấp nhận kháng cáo này của Công ty R.

Tòa án nhân dân quyết định:

Không chấp nhận kháng cáo của của Công ty trách nhiệm hữu hạn R. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 01/2020/KDTM-ST ngày 27 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã T.

06-16

Bản án số 02/2021/KDTM-ST ngày 23/03/2021 Về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ

(Hợp đồng dịch vụ bảo vệ )

Nội dung vụ án:

Công ty TNHH H (gọi tắt là Công ty H) và Công ty Công ty TNHH MTV Dịch vụ bảo vệ – Vệ sĩ T (gọi tắt là Công ty T) có thỏa thuận thống nhất ký kết các hợp đồng dịch vụ bảo vệ từ ngày 30/6/2017 đến ngày 14/9/2019, cụ thể gồm: Hợp đồng số 77/HĐBV ngày 14/9/2016, Hợp đồng số 53/HĐBV ngày 14/9/2017, Hợp đồng số 53/HĐBV ngày 14/3/2018, Hợp đồng số 53/HĐBV ngày 14/9/2018, Hợp đồng số 40/HĐBV ngày 02/12/2017, và Hợp đồng số 40/HĐBV ngày 02/6/2018. Tổng cộng phí dịch vụ bảo vệ là 345.600.000 đồng.

Tính đến ngày 04/11/2019, Công ty H đã thanh toán được số tiền 179.000.000 đồng, đến nay còn nợ lại số tiền 166.600.000 đồng. Nay, Công ty TNHH MTV Dịch vụ bảo vệ – Vệ sĩ T yêu cầu Công ty TNHH H thanh toán số tiền phí dịch vụ bảo vệ còn nợ là 166.600.000 đồng.

Tòa án nhân dân nhận định:

Việc ký kết các hợp đồng trên giữa Công ty T và Công ty H được lập thành văn bản, do người có thẩm quyền của hai Công ty đại diện ký kết, sự thỏa thuận giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, tuân thủ các quy định của pháp luật khi giao kết hợp đồng nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, bên Công ty T cho rằng đã có cung cấp dịch vụ bảo vệ đảm bảo theo như thỏa thuận trong các hợp đồng đã ký kết, nhưng Công ty H còn nợ dịch vụ bảo vệ số tiền 166.600.000 đồng. Về phía Công ty H có văn bản thừa nhận còn nợ Công ty T 166.000.000 đồng, không có ý kiến hay tài liệu chứng cứ gì thể hiện bên Công ty T không thực hiện đúng hợp đồng

Tòa án nhân dân tuyên:

Buộc Công ty TNHH H có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ phí dịch vụ bảo vệ 166.600.000 đồng.

17-22

Bản án số: 07/2021/KDTM-PT ngày 12 – 4 – 2021 Về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ

(Hợp đồng dịch vụ giao nhận, vận chuyển hàng hóa)

Nội dung vụ án:

Ngày 18/4/2019 Công ty Cổ phần Giao nhận Vận tải Con Ong (gọi tắt là Công ty Con Ong ) và Công ty TNHH May Quốc tế Gleeco Việt Nam (gọi tắt là Công ty Gleeco) ký hợp đồng dịch vụ giao nhận, vận chuyển hàng hóa số 1904005. Công ty Con ong đã cung ứng các dịch vụ cho Công ty Gleeco từ tháng 5/2019 đến tháng 10/2019 (cụ thể vận chuyển hàng hóa của Công ty Gleeco từ địa chỉ của Công ty Gleeco đến cảng và ngược lại) theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. Công ty Gleeco đã thanh toán tiền cước dịch vụ đến hết tháng 7/2019 và chậm thanh toán số tiền của Tháng 8+9+10/2019 liên quan tới 06 hóa đơn điện tử số 0018020, 0018021, 0020249, 0020250, 0022311 và 0022312 là 941.980.67 đồng (trong đó phí dịch vụ là 889.837.756 đồng, phí chi trả hộ là 52.142.914 đồng. Ngày 10/10/2019 Công ty Gleeco đã trả cho Công ty Con ong 500.000.000 đồng. Nay Công ty Con Ong khởi kiện yêu cầu Công ty Gleeco phải trả số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 15/8/2020 là 581.003.635 đồng, (trong đó nợ gốc là 539.531.199 đồng, nợ lãi là 41.472.436 đồng (lãi suất 0,03%/ngày)

– Tại Bản án số: 06/2020/KDTM-ST ngày 27/10/2020 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng đã xử Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần Giao nhận Vận tải Con Ong, buộc: Công ty TNHH May quốc tế Gleeco Việt Nam phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần Giao nhận Vận tải Con Ong số tiền tính đến ngày 15 tháng 8 năm 2020 là 586.533.293 đồng, trong đó nợ gốc 539.531.199 đồng, nợ lãi 47.002.094 đồng

– Ngày 30/11/2020 Công ty TNHH May Quốc tế Gleeco Việt Nam đã có đơn kháng cáo toàn bộ đối với Bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm bác đơn khởi kiện.

Nhận định của Tòa án:

Việc ký kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, các điều khoản của Hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam và hai bên đều thừa nhận. Quá trình thực hiện Hợp đồng, nguyên đơn đã cung ứng các dịch vụ giao nhận hàng hóa cho bị đơn từ tháng 5 đến tháng 10/2019. Nguyên đơn đã chi trả phí dịch vụ (tiền cước dịch vụ và phí chi trả hộ) cho bị đơn từ tháng 5/2019 đến tháng 10/2019. Từ tháng 5 đến  tháng 7/2019 bị đơn đã thanh toán xong. Số tiền phí dịch vụ của tháng 8,9,10/2019, nguyên đơn đã phát hành hóa đơn điện tử gửi tới bị đơn là số 0018020 ngày 31/8/2019, 0018021 ngày 31/8/2019, 0020249 ngày 30/9/2019, 0020250 ngày 30/9/2019, 0022311 ngày 31/10/2019 và 0022312 ngày 31/10/2019; kèm bảng kê chi tiết thì số tiền Cước phí giao nhận, vận chuyển, Phí chi hộ Công ty Gleeco phải trả cho nguyên đơn là 941.980.670 đồng (trong đó có 889.837.756 đồng là phí giao nhận, vận chuyển, 52.142.914 đồng là phí chi trả hộ). Bị đơn xác nhận đã nhận được các hóa đơn này và không có ý kiến về số tiền ghi trên các hóa đơn.

Trong quá trình tố tụng, nguyên đơn, bị đơn cùng xác nhận: Ngày 10/10/2019 bị đơn thanh toán cho nguyên đơn 500.000.000 đồng và được trừ vào tiền nợ tháng 7/2019 là 97.550.529 đồng, còn lại 402.449.471 đồng trừ vào phí dịch vụ tháng 8/2019. Số tiền nợ còn lại của tháng 8+9+10/2019 bị đơn chưa thanh toán là 539.531.199 đồng (trong đó phí dịch vụ là 487.388.285 đồng và phí chi trả hộ là 52.142.914 đồng).

– Số tiền lãi chậm trả tính từ ngày 01/11/2019 đến ngày 15/8/2020; cụ thể: 41.472.436 đồng (của T8,9,10 với lãi suất thỏa thuận tại phiên tòa sơ thẩm là 0,03%)

– Đối với các hóa đơn số 0018020, 0018021, 0020249 và 0020250 mà nguyên đơn phát hàng sai theo quy định của Bộ tài chính; các hóa đơn dịch vụ phí chi trả hộ tháng 10/2020 Công ty Gleeco chưa nhận được mà chỉ nhận được bảng kê số tiền phí chi trả hộ của tháng 10/2019. Bảng kê số tiền phí chi trả hộ của tháng 10/2019 là 11.350.000 đồng bị đơn đã nhận được. Tại tòa cấp sơ thẩm nguyên đơn đã cung cấp đầy đủ hóa đơn phí trả hộ tháng 10/2019 phù hợp với số tiền ghi trong bảng kê.

Tòa án nhân dân quyết định:

Không chấp nhận kháng cáo của Công ty TNHH May Quốc tế Gleeco Việt Nam. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 06/2020/KDTM-ST ngày 27 tháng 10 năm 2020, Quyết định sửa chữa bổ sung Bản án sơ thẩm số 02/2020/QĐ-SCBSBA ngày 17/11/2020 của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng, cụ thể như sau: Buộc Công ty TNHH May quốc tế Gleeco Việt Nam phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Cổ phần Giao nhận Vận tải Con Ong số tiền tính đến ngày 15 tháng 8 năm 2020 là 581.003.635 đồng (Năm trăm tám mươi mốt triệu không trăm không ba nghìn sáu trăm ba mươi lăm đồng), trong đó nợ gốc 539.531.199 đồng, nợ lãi 41.472.436 đồng.

2333

Bản án số: 75/2021/KDTM-PT Ngày: 29/4/2021 Về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ

(Hợp đồng dịch vụ thu, đòi bồi thường từ bên thứ ba)

3445

Bản án số: 15/2019/KDTM – ST Ngày: 19/02/2020 Về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ bảo vệ

(Hợp đồng dịch vụ bảo vệ)

4653

Bản án số: 05/2020/KDTM-ST Ngày: 05/5/2020 Về việc tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ

(Hợp đồng cung ứng dịch vụ: cung cấp suất ăn)

5458

Bản án số: 04/2020/KDTM-PT ngày 21-5-2020 Về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ

(Hợp đồng dịch vụ về cung cấp, giám sát lắp đặt hệ thống quan trắc chất lượng nước thải tự động)

5965

Bản án số: 11/2020/KDTM-ST ngày: 23/ 06 /2020 Về tranh chấp hợp đồng dịch vụ

(Hợp đồng dịch vụ vệ sinh tòa nhà)

66-75

Bản án số: 34/2020/KDTM ST ngày: 30/9/2020 Về việc tranh chấp hợp đồng Dịch vụ

(Hợp đồng cung cấp dịch vụ bảo vệ)

7680

11

Bản án số: 02/2019/KDTM-PT ngày: 03/5/2019 Về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ

(Hợp đồng quản lý đường thủy nội địa số 4)

8188

  12 Bản án số: 08/2019/KDTM-PT ngày 23-5-2019  về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ pháp lý

(Hợp đồng dịch vụ pháp lý)

89-97

  13

Bản án số: 02/2019/KDTM-ST ngày: 14/6/2019 Về việc tranh chấp hợp đồng dịch vụ- thử nghiệm.

(Hợp đồng về việc thử nghiệm xây dựng trong phòng và ngoài hiện trường)

98-103

  14 Bản án số: 01/2019/KDTM-ST ngày 18-6-2019 Về việc tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ.

(Hợp đồng dịch vụ xếp dỡ, giao nhận, bảo quản hàng hoá xuất nhập khẩu qua Cảng Hải Phòng)

104-110

  15 Bản án số: 01/2019/KDTM-ST ngày: 24-9-2019 Về việc tranh chấp hợp đồng  cung ứng dịch vụ

(Hợp đồng dịch vụ về việc cung cấp, lắp đặt thiết bị bổ sung cho line  lọc  nước cấp, hệ thống xử lý nước cấp công suất 30m3/giờ)

111-115

  16 Bản án số: 30/2019/KDTM -ST ngày: 27-11-2019 Về việc tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ

(Hợp đồng cung ứng dịch vụ bảo vệ)

116130

  17 Bản án số: 07/2018/KDTM-ST ngày 27/02/2018 Về việc tranh chấp Hợp đồng cung ứng dịch vụ – Hợp đồng gia công

(Hợp đồng lắp đặt điện bệnh viện, Hợp đồng cung ứng vật tư bệnh viện)

131138
 18 Bản án số: 02/2018/KDTM-ST ngày 05-11-2018 Về tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ vận chuyển

(Hợp đồng dịch vụ vận chuyển và nâng hạ hàng hóa)

139144

  19 Bản án số: 06/2017/KDTM-ST Ngày 31-8-2017 Về việc tranh chấp về hợp đồng cung ứng dịch vụ.

(Hợp đồng giao nhận thầu lắp đặt băng tải xiên)

145151

  20 Bản án số: 13/2017/KDTM- ST ngày: 12 – 12 – 2017 Về việc tranh chấp Hợp đồng dịch vụ sửa chữa

(Hợp đồng dịch vụ sửa chữa)

152-158

 

………………..

Luật sư tại Đà Nẵng

99 Nguyễn Hữu Thọ, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

56A Điện Biên Phủ, phường Phường Đúc, thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại Quảng Ngãi:

359 đường Nguyễn Du, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Số 19 đường V.I Lê Nin, Nghi Phú, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0935 643 666    –  0906 499 446

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: FDVN CHANNEL

Bài viết liên quan

Hỗ trợ online