Feel free to go with the truth

Trang chủ / BÀI VIẾT & ẤN PHẨM CỦA FDVN / Vướng mắc tồn tại trong định danh tội “sử dụng trái phép chất ma túy” theo Bộ luật Hình sự năm 2015

Vướng mắc tồn tại trong định danh tội “sử dụng trái phép chất ma túy” theo Bộ luật Hình sự năm 2015

Tóm tắt:

Bài viết phân tích sự cần thiết và tính cấp thiết của việc bổ sung tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) trong bối cảnh tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy ngày càng diễn biến phức tạp, đặc biệt là xu hướng gia tăng sử dụng ma túy tổng hợp trong giới trẻ. Tác giả cho rằng việc chỉ xử lý hành chính đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trước đây chưa bảo đảm hiệu quả răn đe, phòng ngừa, dẫn đến yêu cầu cần thiết phải hình sự hóa có điều kiện đối với hành vi này nhằm tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống ma túy.

Bài viết đồng thời làm rõ ý nghĩa của việc bổ sung Điều 256a trong việc khắc phục khoảng trống pháp lý sau khi tội sử dụng trái phép chất ma túy theo Bộ luật Hình sự năm 1999 bị bãi bỏ, đồng thời bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống các tội phạm về ma túy. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ ra những khó khăn, vướng mắc bước đầu trong thực tiễn áp dụng, đặc biệt là trường hợp người phạm tội vừa sử dụng trái phép chất ma túy vừa tàng trữ trái phép chất ma túy với số lượng đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 249 Bộ luật Hình sự. Hiện nay còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về việc xác định đây là một tội hay nhiều tội, từ đó đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nghiên cứu, hướng dẫn và hoàn thiện cơ chế áp dụng pháp luật nhằm bảo đảm sự thống nhất trong thực tiễn xét xử.

Từ khóa: Ma túy, Sử dụng trái phép chất ma túy

  1. Tầm quan trọng và tính thực tiễn, cấp thiết khi bổ sung thêm tội Sử dụng trái phép chất ma túy

Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy tiếp tục diễn biến phức tạp, với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, mức độ nguy hiểm gia tăng. Đáng chú ý, số người sử dụng trái phép chất ma túy có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt là việc sử dụng các chất ma túy tổng hợp trong giới trẻ, kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng đối với trật tự, an toàn xã hội và sức khỏe cộng đồng. Hành vi sử dụng ma túy không còn mang tính cá nhân, lén lút mà xuất hiện công khai tại nhiều cơ sở kinh doanh dịch vụ như quán bar, karaoke, căn hộ cho thuê…, làm gia tăng nguy cơ phát sinh các loại tội phạm khác. Thực tiễn xét xử cho thấy, nhiều vụ án nghiêm trọng như cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng, thậm chí giết người có nguyên nhân từ việc người phạm tội đang trong tình trạng sử dụng ma túy.

Trong khi đó, trước đây hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chủ yếu bị xử lý hành chính theo khoản 1 và các điểm a, d khoản 8 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ, với các hình thức như cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm; đối với người nước ngoài có thể bị trục xuất. Tuy nhiên, đây chỉ là các biện pháp hành chính nên hiệu quả răn đe và phòng ngừa chung còn hạn chế. Trước yêu cầu tăng cường hiệu quả đấu tranh phòng, chống ma túy trong tình hình mới, Quốc hội đã ban hành Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó bổ sung Điều 256a quy định về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Đây là bước điều chỉnh quan trọng trong chính sách hình sự, chuyển từ cơ chế xử lý thuần túy hành chính sang áp dụng chế tài hình sự có điều kiện đối với một số trường hợp nhất định.

Việc bổ sung tội danh này không chỉ khắc phục khoảng trống pháp lý sau khi hành vi sử dụng trái phép chất ma túy không còn bị hình sự hóa như quy định tại Điều 199 Bộ luật Hình sự năm 1999, vốn xuất phát từ quan điểm nhân đạo coi người nghiện là người bệnh cần được hỗ trợ cai nghiện, mà còn góp phần bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật hình sự về ma túy. Bộ luật Hình sự đã quy định xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy, việc bổ sung Điều 256a vào Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung các năm 2017 và 2025 là yêu cầu khách quan, cần thiết nhằm tăng cường công cụ pháp lý, góp phần kiềm chế sự gia tăng của tệ nạn ma túy.

Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng bước đầu đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc, đặc biệt trong trường hợp người thực hiện hành vi vừa sử dụng trái phép chất ma túy, vừa tàng trữ trái phép chất ma túy với số lượng đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Việc xác định đây là một tội hay nhiều tội hiện còn tồn tại những cách hiểu khác nhau, cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ để bảo đảm áp dụng pháp luật thống nhất.

  1. Quy định pháp luật và cấu thành tội phạm của tội “Sử dụng trái phép chất ma túy

2.1. Quy định pháp luật

Ngày 19/6/2025, Quốc hội ban hành Luật số 86/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc bổ sung Điều 256a quy định về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Điều 256a quy định:

Khoản 1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy tự nguyện, cai nghiện ma túy bắt buộc hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

b) Đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy;

c) Đang trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và đã từng bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

d) Trong thời hạn 02 năm kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế.

Khoản 2. Tái phạm tội này thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.

Mặc dù không phải lần đầu tiên hành vi sử dụng trái phép chất ma túy được quy định trong Bộ luật Hình sự, nhưng lần sửa đổi này cho thấy kỹ thuật lập pháp chặt chẽ hơn khi xác định trách nhiệm hình sự dựa trên yếu tố nhân thân và tình trạng pháp lý đặc thù của người vi phạm. Qua nghiên cứu quy định hiện hành và thực tiễn áp dụng, có thể thấy cần nhận thức đầy đủ, chính xác nội hàm của điều luật để xử lý thống nhất.

2.2. Cấu thành tội phạm

2.2.1. Mặt khách thể

Tội phạm này xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy. Do ma túy là chất gây nghiện, có khả năng hủy hoại sức khỏe và phát sinh nhiều hệ lụy xã hội, Nhà nước áp dụng cơ chế quản lý chặt chẽ, nghiêm cấm việc sản xuất, mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép chất ma túy cũng như tiền chất dùng để sản xuất ma túy.

Ngoài ra, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy còn trực tiếp xâm hại sức khỏe, tính mạng của người sử dụng; ảnh hưởng đến chất lượng dân số; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, bởi nghiện ma túy là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác như trộm cắp, cướp tài sản hoặc các hành vi bạo lực nghiêm trọng.

Đối tượng tác động của tội phạm là các chất ma túy như thuốc phiện, heroin, cocaine, methamphetamine, amphetamine, MDMA và các chất ma túy khác do pháp luật quy định, cùng với công cụ, phương tiện dùng để sử dụng ma túy.

2.2.2. Mặt chủ thể

Chủ thể chung: Người từ đủ 16 tuổi trở lên, có năng lực trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 và Điều 21 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Chủ thể đặc thù: Ngoài điều kiện chung, người phạm tội phải thuộc một trong các trường hợp được liệt kê tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 256a. Đây là dấu hiệu bắt buộc để cấu thành tội phạm.

2.2.3. Mặt khách quan

Theo khoản 10 Điều 2 Luật Phòng, chống ma túy năm 2021, người sử dụng trái phép chất ma túy là người có hành vi sử dụng chất ma túy không được phép và có kết quả xét nghiệm dương tính trong cơ thể.

Hành vi phạm tội có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức như hút, hít, chích, uống, ăn hoặc các cách khác đưa chất ma túy vào cơ thể. Người vi phạm thường thực hiện lén lút tại nơi kín đáo hoặc tụ điểm phức tạp như quán bar, karaoke, vũ trường…

Trường hợp sử dụng chất ma túy theo chỉ định y tế hợp pháp hoặc do bị cưỡng ép thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Việc xác định chất ma túy trong cơ thể cần căn cứ vào kết luận giám định theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; kết quả test nhanh chỉ mang tính tham khảo ban đầu.

2.2.4. Mặt chủ quan

Người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Họ nhận thức rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là bị pháp luật cấm, có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện.

Động cơ, mục đích thường nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng chất gây nghiện hoặc lệ thuộc ma túy của bản thân. Tuy động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, nhưng có ý nghĩa trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và quyết định hình phạt.

  1. Những vướng mắc trong định tội danh đối với tội “Sử dụng trái phép chất ma túy

Mặc dù Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để xử lý hình sự đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong một số trường hợp nhất định, tuy nhiên qua thực tiễn áp dụng bước đầu, việc định tội danh vẫn phát sinh nhiều khó khăn, vướng mắc cần được tiếp tục hướng dẫn thống nhất.

3.1. Vướng mắc trong việc xác định dấu hiệu “sử dụng trái phép chất ma túy

Khác với các tội phạm ma túy truyền thống như tàng trữ, vận chuyển, mua bán, hành vi “sử dụng” là hành vi tác động trực tiếp chất ma túy vào cơ thể người phạm tội. Trong nhiều trường hợp, khi phát hiện người vi phạm thì hành vi sử dụng đã kết thúc, vật chứng không còn, chỉ còn biểu hiện nghi vấn hoặc kết quả xét nghiệm dương tính.

Từ đó phát sinh quan điểm khác nhau về căn cứ chứng minh tội phạm. Có ý kiến cho rằng chỉ cần kết quả xét nghiệm dương tính là đủ căn cứ xử lý hình sự. Quan điểm khác lại cho rằng cần chứng minh thêm hành vi cụ thể như thời gian, địa điểm, cách thức sử dụng, loại chất ma túy đã sử dụng và mối liên hệ giữa kết quả xét nghiệm với hành vi trái phép của người đó.

Nếu chỉ căn cứ vào kết quả xét nghiệm dương tính thì dễ dẫn đến suy đoán buộc tội, trong khi dấu vết ma túy trong cơ thể có thể tồn tại sau một khoảng thời gian nhất định. Vì vậy, cần kết hợp giữa kết luận giám định với lời khai, tài liệu thu thập được, vật chứng và các chứng cứ khác để bảo đảm khách quan.

3.2. Vướng mắc trong việc xác định điều kiện chủ thể đặc thù

Điều 256a không xử lý mọi trường hợp sử dụng ma túy mà chỉ áp dụng với người đang ở những tình trạng pháp lý nhất định như đang cai nghiện, quản lý sau cai nghiện, quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy hoặc trong thời hạn luật định kể từ khi tự ý chấm dứt cai nghiện.

Thực tiễn cho thấy việc xác minh các điều kiện này không đơn giản. Nhiều trường hợp hồ sơ quản lý hành chính thiếu đầy đủ, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện hoặc quản lý chưa được lưu trữ chặt chẽ, thời điểm bắt đầu và chấm dứt thời hạn quản lý chưa rõ ràng. Nếu không xác định chính xác tình trạng pháp lý của người vi phạm tại thời điểm sử dụng ma túy thì rất dễ dẫn đến định tội sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

3.3. Vướng mắc khi người phạm tội đồng thời có hành vi tàng trữ chất ma túy để sử dụng

Đây là vấn đề nổi bật nhất hiện nay. Trong thực tế, người sử dụng ma túy thường cất giữ một lượng ma túy nhất định để dùng cho bản thân. Khi bị bắt quả tang, cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định xử lý về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249, tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 256a hay cả hai tội.

Có quan điểm cho rằng hành vi tàng trữ ma túy để sử dụng là hành vi độc lập, xâm phạm chế độ quản lý nhà nước về ma túy nên phải xử lý thêm tội tàng trữ nếu đủ định lượng luật định. Quan điểm khác cho rằng việc tàng trữ chỉ là bước chuẩn bị tất yếu cho hành vi sử dụng, nếu số ma túy đó nhằm phục vụ cho chính người sử dụng thì không nên xử lý hai tội để tránh chồng lấn trách nhiệm hình sự.

Việc chưa có hướng dẫn cụ thể dẫn đến nguy cơ cùng một hành vi nhưng các địa phương áp dụng khác nhau.

3.4. Vướng mắc trong trường hợp sử dụng ma túy cùng người khác

Nhiều trường hợp nhiều người cùng góp tiền mua ma túy, cùng sử dụng tại một địa điểm. Khi đó cần phân biệt giữa hành vi đồng phạm về tội sử dụng trái phép chất ma túy với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Nếu một người chuẩn bị địa điểm, phương tiện, rủ rê, phân chia ma túy, hướng dẫn cách sử dụng hoặc điều hành việc sử dụng của người khác thì có thể cấu thành tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Ngược lại, nếu chỉ cùng nhau sử dụng mà không có vai trò tổ chức thì việc xử lý cần thận trọng. Ranh giới giữa hai tội danh này trong thực tiễn đôi khi rất mong manh.

3.5. Vướng mắc về tái phạm theo khoản 2 Điều 256a

Khoản 2 Điều 256a quy định “Tái phạm tội này thì bị phạt tù từ 03 năm đến 05 năm”. Tuy nhiên, việc hiểu thế nào là “tái phạm tội này” cần được thống nhất: chỉ áp dụng khi người phạm tội đã bị kết án về Điều 256a, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội; hay bao gồm cả trường hợp trước đó bị xử lý hành chính về hành vi sử dụng ma túy rồi tiếp tục phạm tội.

Nếu không có hướng dẫn cụ thể sẽ dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất trong thực tiễn xét xử.

3.6. Kiến nghị hoàn thiện

Từ những vướng mắc nêu trên, cần sớm có văn bản hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hoặc liên ngành tư pháp trung ương về:

– Căn cứ chứng minh hành vi sử dụng trái phép chất ma túy;

– Nguyên tắc xử lý trường hợp vừa sử dụng vừa tàng trữ ma túy;

– Tiêu chí phân biệt giữa sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy;

– Cách xác định tái phạm theo khoản 2 Điều 256a;

– Cơ chế phối hợp trong việc cung cấp hồ sơ quản lý cai nghiện, quản lý sau cai nghiện.

Việc hướng dẫn kịp thời các nội dung trên sẽ góp phần bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, tránh oan sai và nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy trong giai đoạn hiện nay.

 

…………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan