Feel free to go with the truth

Trang chủ / Hình sự / Tổng hợp 18 Bản án, Quyết định của Toà án có nhận định về yêu cầu khởi tố của bị hại

Tổng hợp 18 Bản án, Quyết định của Toà án có nhận định về yêu cầu khởi tố của bị hại

FDVN giới thiệu tài liệu “Tổng hợp 18 Bản án, Quyết định của Toà án có nhận định về yêu cầu khởi tố của bị hại” do các Luật sư – Chuyên viên pháp lý của FDVN sưu tầm, tổng hợp. 

Tài liệu này phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu, công tác và được chia sẻ hoàn toàn miễn phí. Chúng tôi phản đối việc sử dụng tài liệu này vào mục đích thương mại và mục đích khác trái pháp luật.

MỤC LỤC

STT

NỘI DUNG

TRANG

Bản án số 03/2021/HS-PT ngày 20/01/2021 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang

Nội dung: Khoảng 16 giờ ngày 11/4/2020, T1, N, L đi trên 02 xe môtô đến khu vực nhà ông Lê Văn E ngụ ấp Phú Tr, xã P, huyện A để tham gia đá gà được thua bằng tiền với nhóm của T, Ph, Q. Do không thỏa thuận được việc cáp độ, nên T1 và N bỏ đi về trước, còn P và L phát sinh mâu thuẫn đánh nhau, L bỏ chạy để lại xe môtô biển số 67G1-403.80.

Do L nhờ lấy giúp xe 67G1-403.80, nên T1 điều khiển xe môtô biển số 52M8-9914 chở N quay lại. Đến nơi, N xuống xe đi bộ đến lấy xe thì bị T và P giữ lại, thấy vậy T1 điều khiển xe 52M8-9914 đâm thẳng vào khu vực của N để giải vây, làm P và chị T (vợ của P) đứng gần đó bị té ngã, T1 cũng té ngã trong tư thế nằm ngửa trên đường. Tức giận T liền nhặt 01 cây kéo bằng kim loại, cán nhựa, dài khoảng 10cm đến đứng khom người đâm từ trên xuống không rõ bao nhiêu nhát trúng vào người T1 gây thương tích. Khi T1 đứng lên bỏ chạy, T tiếp tục đâm thêm 01 nhát trúng vào vùng lưng của T1, rồi T ném cây kéo xuống ven đường gần đó đi về nhà, còn T1 được đưa đến bệnh viện điều trị đến ngày 16/4/2020 xuất viện.

Qua sự việc, T1 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi của T.

Theo Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y tỉnh An Giang, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 06%.

Ngày 21/7/2020, T bị khởi tố điều tra, ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú.

Trong quá trình điều tra, bị hại T1 yêu cầu bị cáo T bồi thường toàn bộ thiệt hại, tổn thất tinh thần 118.750.000 đồng. Bị cáo T nộp 5.000.000 đồng để khắc phục hậu quả.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Toà án sơ thẩm tuyên: Xử phạt bị cáo T 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 29/10/2020 bị cáo T có đơn kháng cáo yêu cầu xin được hưởng án treo.

Ngày 26/10/2020 bị hại T1 có đơn xin bãi nại xin không xử lý đối với bị cáo T.

Toà án phúc thẩm nhận định: Xét kháng cáo của bị cáo T thì thấy: Bị cáo là một người trưởng thành, khỏe mạnh, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo đủ khả năng nhận thức được việc dùng hung khí nguy hiểm tác động vào cơ thể người khác sẽ gây ra hậu quả nhưng vẫn cố ý thực hiện. Trong vụ án này, xuất phát từ việc rủ nhau đánh bạc ăn thua bằng tiền với hình thức tổ chức cho gà đá nhau mà dẫn đến vụ án xảy ra, hậu quả T1 bị T dùng kéo đâm nhiều nhát ở nhiều vị trí khác nhau trên cơ thể của bị hại gây tỷ lệ thương tật là 06% nên bị cáo T phải hoàn toàn chịu trách nhiệm do hành vi của mình gây ra. Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, hung hăng, dùng hung khí nguy hiểm, không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người đúng tội. Khi quyết định hình phạt, cấp sơ thẩm có xem xét nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để xử phạt 09 tháng tù là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại T1 xác định kháng cáo, có đơn xin rút yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo T có xác nhận của chính quyền địa phương vì thấy gia đình bị cáo T quá khó khăn còn mẹ già con nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình. HĐXX xét thấy, trong vụ án này bị cáo T chỉ bị điều tra, truy tố, xét xử về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 và vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại tự nguyện rút lại yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo, bị cáo T đồng ý việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại, đồng thời tự nguyện rút lại toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Do đó, HĐXX phúc thẩm xét thấy cần hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện An Phú và đình chỉ vụ án như đề nghị của VKS thực hành quyền công tố tại phiên tòa. Việc hủy bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện An Phú và đình chỉ vụ án không phải là lỗi của cấp sơ thẩm.

Toà án phúc thẩm tuyên: Hủy bản án sơ thẩm. Bị cáo T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

1-6

Quyết định đình chỉ vụ án số 10/2021/HSST-QĐ ngày 23/02/2021 của Toà án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng

Nội dung: Ngày 05-3-2020 bị cáo Phạm Thị N đã có hành vi dùng khúc cây gỗ là hung khí nguy hiểm đánh bị hại Trần Thị L gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 8% theo bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 80/2020-TgT ngày 22-5-2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng. Ngày 29-6-2020, người bị hại Trần Thị L có đơn yêu cầu khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với bị cáo N.

Theo yêu cầu của bị hại bà Trần Thị L, yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; Cơ quan điều tra tiến hành điều tra vụ án theo thủ tục chung; được Kết luận điều tra số 108 ngày 30-10-2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng.

Tại Bản cáo trạng số trạng số 111/CT-VKS ngày 26-11-2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị cáo Phạm Thị N về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay; bị hại bà Trần Thị L tự nguyện rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Phạm Thị N về tội “Cố ý gây thương tích”, việc rút yêu cầu khởi tố không bị ép buộc, cưỡng bức trái ý muốn của bị hại. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa đề nghị đình chỉ vụ án với căn cứ “bị hại rút yêu cầu khởi tố”. Do vậy căn cứ khoản 2 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự để đình chỉ vụ án hình sự.

Sau khi bị hại bà Trần Thị L tự nguyện rút yêu cầu khởi tố và vụ án bị đình chỉ, bị hại bà Trần Thị L không có quyền yêu cầu lại theo quy định khoản 3 Điều 155 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về bồi thường: Bị cáo Phạm Thị N đồng ý bồi thường cho bà Trần Thị L số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu); trong thời hạn 06 tháng, mỗi tháng trả 5.000.000 đồng (năm triệu) kể từ ngày 01-3-2021 cho đến khi bồi thường xong và bà L đồng ý nên cần ghi nhận.

Về việc hủy bỏ biện pháp nhăn chặn: Bị cáo Phạm Thị N tại ngoại không bị tạm giữ, tạm giam nên không đặt ra để xem xét.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn cây gỗ dài 40 cm, đường kính 07 cm một đầu có dấu vết gãy (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26- 11-2020).

Về án phí: Áp dụng các Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12- 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Bị hại bà Trần Thị L phải chịu án phí hình sự theo quy định.

Bị cáo Phạm Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải bồi thường là 30.000.000 đồng x 5% = 1.500.000 đồng.

Toà án sơ thẩm tuyên: Đình chỉ vụ án hình sự sơ thẩm.

7-10

Bản án số 01/2022/HS-PT ngày 20/01/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

Nội dung: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 04/12/2020 A cùng với N3, sinh năm 2004, trú tại xóm 3, xã T.L, huyện Đ đến Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Đ, khi đi A mang theo 01 chiếc gậy kim loại, loại gậy rút 03 khúc với mục đích tìm đánh T2 là học sinh của Trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Đ (do Lan A và T2 đã có mâu thuẫn với nhau từ trước). Khi đến nơi, không gặp T2 nên Lan A vào quán nước gần cổng Trung tâm ngồi, còn N3 đi về. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Lan A rủ N3, N2 và Q.A đến nhà Q2, sinh năm 2003, trú tại xóm Đ.M, xã T.H, huyện Đ (gần Trung tâm giáo dục thường xuyên) để thăm Q2 do Q2 mới bị tai nạn giao thông. Khi đến cổng nhà Q2, Lan A nhìn thấy K nên Lan A đưa gậy nhờ K giữ hộ. Lan A cùng các bạn đi vào đến phòng khách nhà Q2 thì thấy T2 đang ngồi đó. Quá trình ngồi nói chuyện, N3 có sử dụng chiếc điện thoại Iphone 7 Plus của N3 để quay phim, chụp ảnh. T2 nghĩ N3 chụp ảnh mình nên T2 đã giật chiếc điện thoại của N3 ném xuống đất khiến chiếc điện thoại bị vỡ. Bức xúc vì bị T2 làm vỡ điện thoại, N3 đã dùng tay tát 01 nhát vào má trái của T2, sau đó hai người giằng co nhau. Thấy vậy Lan A chạy đến chỗ K, giật lấy cây gậy từ tay K lao vào vụt 01 nhát vào đầu và 02 nhát vào tay trái của T2. Lan A và T2 giằng co chiếc gậy từ trong phòng khách ra đến cổng nhà Q2. Thấy T2 và Lan A đánh nhau nên N2 và Q.A chạy vào túm tóc, kéo T2 và Lan A ra để can ngăn. Quá trình can ngăn, N2 bị Lan A vụt gậy vào tay phải, rách da. Khi ra đến cổng nhà Q2, Lan A tiếp tục dùng gậy vụt nhiều nhát vào tay và bụng T2. Lúc này chị N4, sinh năm 1973, trú tại xóm Đ.M, xã T.H (là mẹ của Q2) đến can ngăn, sự việc kết thúc. T2 bị thương rách da đầu phải điều trị tại Bệnh viện Đa khoa huyện Đ điều trị từ ngày 04/12/2020 đến ngày 08/12/2020 thì ra viện.

Ngày 08/12/2020, chị N1 (là mẹ đẻ của T2) đã làm đơn trình báo đến Công an xã T.H đề nghị giải quyết vụ việc. Xác định có dấu hiệu của tội phạm Công an xã T.H đã lập hồ sơ ban đầu sau đó chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để điều tra theo thẩm quyền.

Ngày 25/12/2020 cháu T2 có đơn đề nghị khởi tố vụ án, đề nghị giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể. Tại bản kết luận giám định xác định tỷ lệ tổn thương do thương tích gây nên hiện tại là 1%.

Trong giai đoạn truy tố, bị cáo đi khỏi địa phương, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã nhiều lần triệu tập, bị cáo không có mặt, gia đình không biết bị cáo đang ở đâu. Theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã đối với bị cáo. Ngày 10/8/2021 bị cáo bị bắt theo Quyết định truy nã.

Toà án sơ thẩm tuyên: Xử phạt A 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho chị Đoàn Thị T2 4.000.000đ (bốn triệu đồng)

Ngày 12/10/2021 bị cáo Nguyễn Thị Lan A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cải tạo tại địa phương.

Ngày 11/10/2021 người đại diện hợp pháp cho bị hại có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo và xác định bị cáo đã bồi thường cho bị hại só tiền 5.000.000đồng.

Toà án phúc thẩm nhận định: Đây là vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện vụ án, đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị hại là T2 và người đại diện hợp pháp cho bị hại bà N1 đã rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, bị cáo rút kháng cáo, HĐXX thấy: Việc rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đối với bị cáo Lan A về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo xin rút toàn bộ kháng cáo. HĐXX chấp nhận rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và rút kháng cáo của bị cáo. Căn cứ Điều 155; Điều 359 của Bộ luật tố tụng hình sự, hủy bản án hình sự sơ thẩm số 109/2021/HSST ngày 30/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và đình chỉ vụ án. Bị hại không có quyền yêu cầu khởi tố lại.

Việc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm không có lỗi trong trường hợp này.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ chấp nhận.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS, Điều 47 BLHS: Tịch thu tiêu huỷ 01 túi niêm phong ký hiệu PS1A 069270 (bên trong là 01 chiếc gậy kim loại, loại gậy rút 03 đoạn, thân gậy có nhiều màu, chuôi gậy được bọc cao su màu đen).

Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự. Bị hại là người dưới 18 tuổi và người đại diện hợp pháp của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố vụ án. Căn cứ điểm e khoản 1 Điều 11 của Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14 về án phí, bị hại không phải chịu án phí hình sự.

Toà án phúc thẩm tuyên: Hủy bản án hình sự sơ thẩm.

11-15

Bản án số 34/2022/HS-PT ngày 11/3/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre

Nội dung: Bà N.T.A.P (sinh năm: 1965; nơi cư trú: ấp N, xã M, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre) làm nghề mua bán phế liệu, kể lại cho chồng là bị cáo N.V.D việc bà N.T.B.M mua phế liệu giá rẻ, phá giá cạnh tranh trong việc làm ăn của vợ chồng N.T.A.P nên N.V.D nảy sinh ý định thuê người đánh bà N.T.B.M để dằn mặt, để bà N.T.B.M không mua phế liệu giá rẻ, phá giá nữa. Khoảng 17 giờ ngày 15/4/2021, trong lúc N.V.D làm bảo vệ cho lò bún của ông P.V.V (ở ấp N, xã M, huyện Giồng Trôm), N.V.D gặp và hỏi T.T.T (T.T.T làm thuê tại lò bún) có biết bà N.T.B.M không và thuê T.T.T đánh cảnh cáo bà N.T.B.M, T.T.T đồng ý. N.V.D đưa trước cho T.T.T số tiền 2.000.000 đồng.

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 16/4/2021, T.T.T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 71B2 – xxx.xx đến nhà của bà N.T.B.M ở ấp C, xã M, huyện Giồng Trôm kêu bà N.T.B.M đến nhà trọ H ở cùng ấp để bán phế liệu, bà N.T.B.M đồng ý, T.T.T đến gần nhà trọ H trước để chờ bà N.T.B.M. Bà N.T.B.M chạy xe đạp đến nhà trọ H nhưng không thấy T.T.T ở đó, bà N.T.B.M dừng xe trước nhà trọ H, định gọi điện thoại về nhà thì T.T.T chạy xe mô tô đến. T.T.T xuống xe, lấy thanh kim loại (trong trạng thái thu gọn) để trong cốp xe ra, kéo thanh kim loại dài ra và xông đến đánh 02 cái vào đầu bà N.T.B.M, bà N.T.B.M đưa tay lên đỡ làm tay trái bị thương, chảy nhiều máu. T.T.T lên xe mô tô chạy khỏi hiện trường, bà N.T.B.M được đưa đi điều trị tại bệnh viện M, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Chiều ngày 17/4/2021, N.V.D kêu bà N.T.A.P đến chỗ nghỉ của T.T.T trong khu vực lò bún của ông P.V.V đưa thêm cho T.T.T 1.000.000 đồng, tổng cộng T.T.T nhận của N.V.D 3.000.000 đồng, số tiền này T.T.T đã tiêu xài hết. Sau khi đưa tiền cho T.T.T, bà N.T.A.P hỏi N.V.D về việc đưa tiền cho T.T.T, N.V.D nói với bà N.T.A.P là trả tiền đã thuê T.T.T đánh bà N.T.B.M.

Ngày 29/6/2021, bà N.T.B.M có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, xử lý hành vi của T.T.T đánh bà N.T.B.M gây thương tích và những người có liên quan.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích xác định Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích là: 10%.

Toà án sơ thẩm tuyên: Tuyên bố bị cáo T.T.T phạm “Tội cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo T.T.T 01 (một) năm tù. Buộc bị cáo T.T.T phải nộp số tiền 3.000.000 (ba triệu) đồng là tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có để sung quỹ Nhà nước.

Sau khi xét xử sơ thẩm; ngày 28/12/2021, bị cáo T.T.T kháng cáo yêu cầu đình chỉ vụ án; bị hại N.T.B.M kháng cáo yêu cầu rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo T.T.T và đình chỉ vụ án đối với bị cáo T.T.T.

Toà án phúc thẩm nhận định: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo T.T.T phạm “Tội cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm”, “Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê” và “Có tính chất côn đồ” theo điểm a, h, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật

Xét kháng cáo của bị cáo T.T.T và bị hại N.T.B.M, thấy rằng: sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28/12/2021, bị cáo T.T.T có đơn kháng cáo yêu cầu đình chỉ vụ án, bị hại N.T.B.M có đơn kháng cáo yêu cầu rút yêu cầu khởi tố và đình chỉ vụ án đối với bị cáo T.T.T. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại N.T.B.M đã rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự và yêu cầu đình chỉ vụ án đối với bị cáo T.T.T do hai bên đã thỏa thuận xong về phần trách nhiệm dân sự và bị cáo T.T.T đã nhận thức được lỗi lầm của mình. Xét thấy bị hại N.T.B.M đã tự nguyện rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo T.T.T; bị hại N.T.B.M không bị lừa dối, ép buộc hoặc bị cưỡng bức về việc rút yêu cầu khởi tố nên cần chấp nhận kháng cáo của bị hại và bị cáo, hủy một phần bản án sơ thẩm, đình chỉ vụ án đối với bị cáo T.T.T theo quy định pháp luật. Trong trường hợp này, việc hủy một phần bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do bị hại rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật nên không phải lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.

– Do bị hại đã rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo T.T.T trong giai đoạn xét xử phúc thẩm và vụ án được đình chỉ đối với bị cáo T.T.T, nên bị hại phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo T.T.T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

– Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo T.T.T và bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Toà án phúc thẩm tuyên: Hủy một phần Bản án sơ thẩm, đình chỉ vụ án đối với bị cáo T.T.T

16-21

Bản án số 880/2022/HS-PT ngày 24/9/2022 của Toà án nhân dân thành phố Hà Nội

Nội dung: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 24/5/2021, L được vợ là D thông báo về việc có người dán tờ rơi ở chợ Gạch, thị trấn Phúc Thọ với nội dung nói xấu L và con gái. Do có mâu thuẫn về đất đai từ trước với anh ruột là ông Nguyễn Quang X nên L cho rằng ông X là người làm việc đó. Lúc này, ông X đang ngồi uống nước cùng ông Nguyễn Quang H tại phòng khách nhà ông H, thôn D, xã TL, huyện PT. L dắt theo con chó của gia đình và cầm 01 chiếc gậy đánh bóng chày bằng gỗ, dài khoảng 53cm đi vào phòng khách nhà ông H. Tay L cầm gậy bóng chày chỉ vào mặt ông X và nói “Mày dán cái gì ở chợ, giờ mày có giỏi ra mà dán đi”. Ông X đang ngồi ghế giơ tay trái chỉ về phía L chửi lại. Tay pH L cầm gậy bóng chày giơ lên vụt trúng vào khuỷu tay trái của ông X làm rách da chảy máu. Ông X đứng lên ghế thì L cầm gậy vụt liên tiếp vào đùi trái và vào người ông X. Ông X lao vào giằng gậy của L, hai bên giằng co nhau thì ông H vào can ngăn. Ông X chạy ra ngoài hè cầm chiếc nạng sắt của ông H để chống trả nhưng được mọi người can ngăn nên ông X và L không đánh nhau nữa. Ông H đẩy L ra cổng và đóng cổng lại. Ông X đứng trong sân nhà ông H tiếp tục chửi L và nhặt 02 khúc gỗ ném qua tường bao về phía L nhưng không trúng. Sau đó, ông X đến Công an xã Thọ Lộc, huyện Phúc Thọ trình báo sự việc và đến Trạm y tế xã Thọ Lộc khám, rửa khâu vết thương, về nhà điều trị.

Tại Công an xã Thọ Lộc, huyện Phúc Thọ, L tự nguyện nộp 01 chiếc gậy đánh bóng chày làm bằng gỗ, màu vàng nhạt, dài khoảng 53cm, đường kính phần đầu gậy khoảng 5cm, đường kính phần chuôi gậy khoảng 4cm. Công an xã Thọ Lộc đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện Phúc Thọ giải quyết theo thẩm quyền.

Tại bản kết luận giám định pháp y xác định phần trăm tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông X tại thời điểm giám định là 01%.

Sau khi nhận được Thông báo kết luận giám định, ông X có đơn đề nghị khởi tố Nguyễn Quang L về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định của pháp luật.

Toà án sơ thẩm tuyên: Xử phạt: Bị cáo L 6 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Toà án phúc thẩm nhận định: Mặc dù tại phiên toà sơ thẩm và tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo không thừa nhận hành vi dùng gậy bóng chày gây thương tích cho bị hại và cho rằng việc truy tố, xét xử không khách quan. Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, HĐXX có đủ cơ sở khẳng định bị cáo L đã thực hiện hành vi phạm tội.

Bản án hình sự sơ thẩm nhận định bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã xử phạt bị cáo Nguyễn Quang L 06 (Sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là phù hợp. HĐXX phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo L cho rằng tội danh và mức án mà Bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên là không phù hợp, đề nghị huỷ bản án sơ thẩm để điều tra hoặc xét xử lại.

Xét đề nghị rút yêu cầu khởi tố của bị hại X: Ngày 06 tháng 9 năm 2022, ông X đã làm đơn gửi Toà án xin rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo L. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông X tiếp tục đề nghị rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo. Sau khi được HĐXX giải thích hậu quả của việc rút yêu cầu khởi tố thì bị hại không có quyền yêu cầu lại, đồng thời bị hại khẳng định việc rút đơn là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, cưỡng bức. Xét đây là sự tự nguyện của bị hại nên HĐXX căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 155; khoản 8 Điều 157; Điều 299; Điều 355 và Điều 359 Bộ luật Tố tụng Hình sự quyết định hủy bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt, đình chỉ vụ án. Lý do đình chỉ là vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại và bị hại đã rút toàn bộ yêu cầu khởi tố đối với bị cáo chứ không phải do bị cáo không phạm tội nên bị cáo L không có quyền yêu cầu bồi thường do việc truy tố, xét xử sơ thẩm.

Kiến nghị xử lý hành chính đối với L: Do bị hại X đã rút yêu cầu khởi tố nên HĐXX phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm về tội danh và hình phạt, đình chỉ vụ án. Toà án chuyển bản án hình sự phúc thẩm đến Công an huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội để xem xét xử lý hành chính đối với L về hành vi “Cố ý gây thương tích”.

Toà án phúc thẩm tuyên: Chấp nhận việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại đối với bị cáo. Hủy Bản án hình sự sơ thẩm, đình chỉ vụ án. Chuyển Công an huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội xem xét xử lý hành chính đối với L về hành vi “Cố ý gây thương tích”

22-28

Bản án số 122/2022/HS-PT ngày 13/12/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang

Nội dung: Vào khoảng 20 giờ, ngày 04 tháng 02 năm 2022, Công an xã H, thành phố V đã tiếp nhận tin báo của anh K về việc Đ dùng thanh kim loại (cây dũ khúc), đánh vào đầu N.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thành Đ khai nhận: Vào khoảng 10 giờ, ngày 04/02/2022 tại nhà có tổ chức tiệc nhậu gồm: chị H (vợ Đ), bà Trần Thị Hồng Đ (mẹ ruột Đ), Trần Hoàng K (cậu ruột), Bùi Hoài N, Trần Thị Hồng L (mẹ ruột N), Đào Văn T, Nguyễn Anh T1, Trần Viễn P, Mã Thanh B. Trong lúc nhậu thì Đ nghe mọi người nói chuyện nên biết được giữa N và B có xảy ra mâu thuẫn, do trước N có tình cảm với T1, nay T1 và Bình có tình cảm với nhau. Sau đó, T1 và B ra về trước, lúc này Đ lấy cây dũ khúc để trên bàn, hỏi N “Mày muốn chơi hông”, ý hỏi N muốn đánh Bình không thì bà L kéo N về nhà ông Trần Hoàng V (ông Ngoại N), cách đó khoảng 400m, sau đó khoảng 17 giờ thì tất cả nghỉ nhậu.

Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, thì T1 gọi điện cho Đ nói N cầm dao qua nhà T1, sợ Bình bị đánh nên T1 gọi Đ qua. Sau đó, Đ qua nhà T1 có mang theo cây dũ khúc để phía sau thắt lưng quần. Khi đến nhà T1 thì Đ hỏi T1 có chuyện gì, T1 trả lời “N cầm dao đến nhà T1”, Đ kêu B về thì B không dám về, đến khoảng 10 phút sau thì N đến nhà T1, có bà Loan và anh K đi theo. Sau đó, Đ và N nói chuyện với nhau được vài câu, thì N điện cho cha N nói có người ăn hiếp N nên Đ dùng tay đánh vào đầu N một cái, N chạy về nhà ông V lấy cây dao Thái Lan có cán cầm màu vàng chạy lại định đánh Đ thì K ôm lại, lúc này Đ lấy cây dũ khúc ở thắt lưng ra, tay phải cầm cây dũ khúc đánh trúng vào đầu N một cái làm N bất tỉnh, Đ tiếp tục đánh N thì được bà Loan, anh K căn ngăn nên Đ bỏ đi về. Sau đó, N được người thân đưa đưa đi đến Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hậu Giang cấp cứu và điều trị.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích xác định tổng tỷ lệ thương tích gây tổn hại đến sức khoẻ anh N là 2%.

Ngày 08 tháng 02 năm 2022, anh N có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với hành vi của Đ theo quy định pháp luật.

Toà án sơ thẩm tuyên: bị cáo Đ phạm “Tội cố ý gây thương tích”. Xử phạt: bị cáo Đ 06 (sáu) tháng tù.

Toà án phúc thẩm nhận định: Ngày 22 tháng 8 năm 2022, bị hại Bùi Hoài N có đơn rút yêu cầu khởi tố đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ. Căn cứ hướng dẫn tại Công văn số: 254/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao thì: “Trường hợp sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm vẫn còn thời hạn kháng cáo, kháng nghị mà người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu thì Tòa án phải hướng dẫn họ làm đơn kháng cáo để Tòa án cấp phúc phẩm xem xét giải quyết việc rút yêu cầu theo thủ tục phúc thẩm.”. Trong vụ án này, bị hại Bùi Hoài N có đơn rút yêu cầu khởi tố trong thời hạn kháng cáo nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không hướng dẫn bị hại làm đơn kháng cáo và thực hiện các thủ tục thụ lý kháng cáo của bị hại là có thiếu sót. Tuy nhiên, do bị cáo Nguyễn Thành Đ có kháng cáo xin được hưởng án treo và việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại là theo hướng có lợi cho bị cáo nên thiếu sót của cấp sơ thẩm không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và cấp phúc thẩm khắc phục được. Do đó, HĐXX xác định việc rút yêu cầu khởi tố của bị hại là kháng cáo và xem xét giải quyết việc rút yêu cầu khởi tố theo thủ tục phúc thẩm.

Sau khi xét xử sơ thẩm, người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự là bị hại Bùi Hoài N rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ. Xét thấy đây là sự tự nguyện của bị hại và không trái quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận và căn cứ vào khoản 2 Điều 155 và Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án. Việc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là do người đã yêu cầu khởi tố vụ án hình sự rút yêu cầu, không phải do lỗi của Tòa án cấp sơ thẩm.

Do việc hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án là về mặt hình sự nên HĐXX phúc thẩm giải quyết các vấn đề về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí theo thủ tục chung để đảm bảo việc giải quyết toàn diện và triệt để vụ án.

Về án phí: Bị hại Bùi Hoài N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm do vụ án được khởi tố theo yêu cầu của bị hại, mà sau đó vụ án bị đình chỉ do bị hại rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ vụ án; bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Toà án phúc thẩm tuyên: Hủy Bản án hình sự sơ thẩm s và đình chỉ vụ án.

29-34

LINK PDF: Tổng hợp 18 Bản án, Quyết định của Toà án có nhận định về yêu cầu khởi tố của bị hại

……………..

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2, Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Nam Dương, Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế, Thừa Thiên Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

Tầng 8, Toà nhà Bluesea, số 205B Hoàng Hoa Thám, phường 6, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 5, số 11 Ngõ 183, phố Đặng Tiến Đông, phường Trung Liệt, quận Đống Đa, Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

Quốc lộ 1A, Khối 11, phường Quỳnh Xuân, Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn  www.tuvanphapluatdanang.com

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage LUẬT SƯ FDVN: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan