Feel free to go with the truth

Trang chủ / BÀI VIẾT & ẤN PHẨM CỦA FDVN / TỔNG HỢP 10 ĐIỂM MỚI TRONG LUẬT VIỆC LÀM 2025

TỔNG HỢP 10 ĐIỂM MỚI TRONG LUẬT VIỆC LÀM 2025

Luật Việc làm số 74/2025/QH15 được Quốc hội thông qua ngày 16/6/2025 tại kỳ họp thứ 9 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2026. Luật gồm 8 chương với 55 điều, là văn bản quan trọng quy định về các chính sách hỗ trợ việc làm, đăng ký lao động, hệ thống thông tin thị trường lao động, phát triển kỹ năng nghề, dịch vụ việc làm, bảo hiểm thất nghiệp và quản lý nhà nước về việc làm,… Những điểm mới trong Luật này nhằm mở rộng đối tượng Bảo hiểm xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động nâng cao tay nghề, kỹ năng làm việc, đông thời bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người lao động, đặc biệt lao động không chính thức.

  1. Xây dựng hệ thống đăng ký lao động và cơ sở dữ liệu tập trung về người lao động

Luật Việc làm 2025 thiết lập cơ chế bắt buộc đăng ký, điều chỉnh thông tin lao động đồng bộ với thủ tục tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, áp dụng cho cả người sử dụng lao động (Sau đây gọi tắt là NSDLĐ) và người lao động (Sau đây gọi tắt là NLĐ) kể từ ngày 01/01/2026. Thông tin bao quát các nhóm chính như nhóm thông tin cơ bản; nhóm thông tin về giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học, chứng chỉ kỹ năng nghề và các chứng chỉ khác; nhóm thông tin về tình trạng việc làm và nhu cầu về việc làm; nhóm thông tin về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp; nhóm thông tin khác về đặc điểm, đặc thù của người đăng ký. Các thông tin này được tích hợp, đồng bộ từ các cơ sở dữ liệu quốc gia và chuyên ngành, hình thành cơ sở dữ liệu người lao động thống nhất toàn quốc. Chi tiết về thông tin đăng ký lao động và cơ sở dữ liệu người lao động; quy định hồ sơ, trình tự, thủ tục, nơi đăng ký lao động, quy định tiếp nhận, quản lý, khai thác, kết nối, chia sẻ, sử dụng cơ sở dữ liệu về người lao động được hướng dẫn tại Chương II Nghị định 318/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Việc làm về đăng ký lao động và hệ thống thông tin thị trường lao động.

  1. Hoàn thiện nội dung và tổ chức cung cấp dịch vụ việc làm

Luật Việc làm 2025 điều chỉnh khái niệm dịch vụ việc làm để bao gồm đầy đủ tư vấn, giới thiệu việc làm, cung ứng lao động, cùng thu thập, phân tích và cung cấp thông tin thị trường lao động. Về tổ chức thực hiện, thay thế “Trung tâm dịch vụ việc làm” bằng “Tổ chức dịch vụ việc làm công lập“; đồng thời doanh nghiệp tư nhân phải duy trì liên tục các điều kiện về cơ sở vật chất, nhân sự, ký quỹ sau khi được cấp phép. Đặc biệt, việc mở chi nhánh chỉ được phép khi chi nhánh đáp ứng chuẩn vật chất và phải thông báo trước cho cơ quan lao động tỉnh nơi trụ sở chính (theo Điều 28 Luật Việc làm 2025).

So với Luật mới được ban hành, Luật Việc làm 2013 sử dụng tên gọi cũ và chưa quy định chặt chẽ về duy trì điều kiện hoạt động cũng như thủ tục thông báo chi nhánh. Sự cải tiến này nâng cao chất lượng dịch vụ việc làm, tăng tính chuyên nghiệp, cạnh tranh lành mạnh giữa công lập và tư nhân, đồng thời đảm bảo giám sát chặt chẽ hơn để bảo vệ quyền lợi người lao động.

  1. Mở rộng phạm vi đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Luật Việc làm 2025 quy định mở rộng đáng kể về các đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp, bao gồm:

– Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, kể cả trường hợp người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng có nội dung thể hiện về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên;

– Người lao động quy định trên làm việc không trọn thời gian, có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp nhất theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội;

– Người làm việc theo hợp đồng làm việc

– Người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã có hưởng tiền lương.

Trước đây, theo quy định cũ giới hạn đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp thuộc trường hợp có hợp đồng từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, không thể hiện rõ các đối tượng bắt buộc bao gồm người quản lý doanh nghiệp, kiểm soát viên, người đại diện phần vốn của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; thành viên Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc, thành viên Ban kiểm soát hoặc kiểm soát viên và các chức danh quản lý khác được bầu của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã theo quy định của Luật Hợp tác xã.

  1. Tăng tính linh hoạt và trách nhiệm trong đóng bảo hiểm thất nghiệp

Luật Việc làm 2025 quy định người sử dụng lao động phải đóng đầy đủ mà bỏ thời hạn cứng 30 ngày, xử lý vi phạm theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024; nếu chấm dứt hợp đồng chưa đóng đủ thì phải bù khoản tương đương quyền lợi cho người lao động.

Mức đóng tối đa, trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội được sửa đổi như sau:

“Điều 33. Đóng bảo hiểm thất nghiệp

  1. Mức đóng và trách nhiệm đóng bảo hiểm thất nghiệp được quy định như sau:
  2. a) Người lao động đóng tối đa bằng 1% tiền lương tháng;
  3. b) Người sử dụng lao động đóng tối đa bằng 1% quỹ tiền lương tháng của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp;
  4. c) Nhà nước hỗ trợ tối đa 1% quỹ tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của những người lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp và do ngân sách trung ương bảo đảm.
  5. Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo mức quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và trích tiền lương của từng người lao động theo mức quy định tại điểm a khoản 1 Điều này để đóng cùng một lúc vào Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.

Đối với người lao động quy định tại điểm a khoản 1 Điều 31 của Luật này hưởng tiền lương theo sản phẩm, theo khoán tại doanh nghiệp, tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, hộ kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp thì người sử dụng lao động đăng ký với cơ quan bảo hiểm xã hội và thực hiện đóng bảo hiểm thất nghiệp hằng tháng, 03 tháng hoặc 06 tháng một lần. Thời hạn đóng chậm nhất là ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng…”

Như vậy, mức đóng tối đa được cải tiến linh hoạt ở mức 1% (thay vì cố định 1% như cũ) và cho phép Chính phủ quy định việc giảm mức đóng bảo hiểm thất nghiệp (gọi tắt là BHTN) trong trường hợp khủng hoảng, suy thoái kinh tế, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm, căn cứ tình hình thực tế và kết dư Quỹ BHTN để đảm bảo tính linh hoạt của chính sách và tăng cường sự chủ động điều hành của Chính phủ.

Bên cạnh đó, cho phép tiền đóng bảo BHTN thuộc trách nhiệm của NSDLĐ phải đóng cho NLĐ là người khuyết tật được giảm trong thời gian không quá 12 tháng để khuyến khích tuyển mới và sử dụng NLĐ là người khuyết tật. Và NLĐ và NSDLĐ tạm dừng đóng BHTN nếu NLĐ đang tham gia BHTN mà bị tạm giam, tạm đình chỉ công việc; trường hợp NLĐ được truy lĩnh đủ tiền lương thì NLĐ và NSDLĐ đóng bù cho thời gian bị tạm giam, tạm đình chỉ công việc bằng số tiền phải đóng của những tháng tạm dừng đóng và thực hiện đồng thời với việc đóng bù BHTN bắt buộc. Việc truy thu, truy đóng BHXH thực hiện cùng với việc truy thu, truy đóng BHXH bắt buộc theo quy định của pháp luật về BHXH.

  1. Nâng cao quyền lợi và điều kiện các chế độ bảo hiểm thất nghiệp

Những quy định theo Luật sửa đổi có sự mở rộng hơn về quyền lợi của người lao động và người sử dụng lao động như sai:

– Chế độ “Hỗ trợ học nghề”: được mở rộng thành chế độ “Hỗ trợ NLĐ tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề”; theo đó NLĐ không chỉ được hỗ trợ đào tạo nghề, kỹ năng mà còn được hỗ trợ tiền ăn trong thời gian tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề, giúp giảm bớt khó khăn cho người thất nghiệp khi tham gia học nghề.

– Chế độ “Trợ cấp thất nghiệp”: bổ sung trường hợp NLĐ nghỉ việc khi đủ điều kiện hưởng lương hưu thì không được hưởng trợ cấp thất nghiệp; giảm thời gian chờ đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp từ 15 ngày xuống còn 10 ngày làm việc.

– Chế độ “Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ”: rút gọn đối tượng được hỗ trợ với tên gọi chế độ “Hỗ trợ NSDLĐ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho NLĐ”, theo đó bổ sung quyền lợi của NSDLĐ trong trường hợp ảnh hưởng đến việc làm hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến việc làm của nhiều NLĐ tham gia BHTN; và sửa đổi các điều kiện để áp dụng chế độ hỗ trợ này, trong đó:

Luật Việc làm 2025 cũng làm rõ lý do bất khả kháng để hỗ trợ người lao động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề để duy trì hỗ trở người lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: thiên tai, hỏa hoạn, địch họa và dịch bệnh nguy hiểm; các trường hợp khác theo quy định của chính phủ,…

  1. Doanh nghiệp được hỗ trợ đào tạo lao động nếu gặp khó khăn

Quy định này tập trung vào việc hỗ trợ người sử dụng lao động trong các tình huống bất khả kháng hoặc thay đổi sản xuất, nhằm duy trì việc làm và nâng cao kỹ năng cho người lao động. Cụ thể, theo Điều 42 của luật, NSDLĐ được hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm khi gặp khó khăn do:

  • Thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế theo quy định tại Bộ luật Lao động;
  • Thiên tai, hỏa hoạn, địch họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm;
  • Thực hiện theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc di dời hoặc thu hẹp địa điểm sản xuất kinh doanh;
  • Các trường hợp khác theo quy định của Chính phủ.

Điều kiện để được hỗ trợ bao gồm: BHTN phải được đóng đủ từ 12 tháng trở lên trong 24 tháng tính đến thời điểm đề nghị; có phương án đào tạo phù hợp; và ảnh hưởng hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến việc làm của nhiều NLĐ tham gia BHTN. Luật đã bỏ điều kiện “không đủ kinh phí tổ chức đào tạo” so với luật cũ, giúp doanh nghiệp dễ tiếp cận hơn.

Về phần cung cấp dịch vụ việc làm, đây là quy định riêng tại Điều 28: Doanh nghiệp phải được cấp giấy phép khi đáp ứng cơ sở vật chất, nhân sự phù hợp, đã ký quỹ (mức quỹ do Chính phủ quy định), và phải duy trì các điều kiện này suốt quá trình hoạt động. Khi thành lập chi nhánh, chi nhánh phải có cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu và phải thông báo cho cơ quan chuyên môn về việc làm của UBND cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính trước khi hoạt động.

  1. Tạo điều kiện cho người cao tuổi và thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an hoặc tri thức trẻ tình nguyện

Nhằm thúc đẩy hòa nhập xã hội, tận dụng hiệu quả nguồn nhân lực và bảo đảm cơ hội việc làm công bằng cho các nhóm đối tượng đặc thù, Luật Việc làm 2025 đã mở rộng phạm vi hỗ trợ, trong đó có người cao tuổi, thanh niên đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an và tri thức trẻ tình nguyện. Theo đó, các nhóm đối tượng này được tạo điều kiện trong đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm và phát triển ổn định cuộc sống thông qua các chính sách hỗ trợ phù hợp quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 12 và Điều 13 của Luật.

So với quy định trước đây, Luật Việc làm năm 2013 chủ yếu tập trung hỗ trợ chung về vốn vay tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm thông qua Quỹ quốc gia về việc làm cho một số nhóm đối tượng hạn chế. Cụ thể, Điều 12 Luật Việc làm 2013 quy định:

Điều 12. Đối tượng vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm

  1. Đối được được vay vốn từ Qũy quốc gia về việc làm bao gồm:
  2. a) Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh;
  3. b) Người lao động.
  4. Đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này thuộc các trường hợp sau đây được vay vốn từ Quỹ quốc gia về việc làm với mức lãi suất thấp hơn:
  5. a) Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật, người dân tộc thiểu số;
  6. b) Người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, người khuyết tật.”

Từ quy định trên có thể thấy, Luật năm 2013 mới chỉ giới hạn hỗ trợ chủ yếu ở nhóm doanh nghiệp, hộ kinh doanh và một số nhóm yếu thế, chưa thật sự bao phủ các đối tượng như người cao tuổi, thanh niên sau nghĩa vụ quân sự, công an hay tri thức trẻ tình nguyện.

Với việc bổ sung tại Luật Việc làm 2025, phạm vi thụ hưởng chính sách đã được mở rộng, đa dạng hơn, hướng đến việc bảo đảm cơ hội tiếp cận việc làm tốt hơn cho các nhóm đối tượng này. Qua đó, chính sách không chỉ dừng ở hỗ trợ vốn vay mà còn gắn với đào tạo nghề, tạo việc làm bền vững, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực quốc gia

  1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp được mở rộng và cụ thể hóa

Theo Điều 39 Luật Việc làm sửa đổi năm 2025, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định cụ thể trên cơ sở tiền lương đã đóng bảo hiểm thất nghiệp:

“Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 6 tháng đã đóng gần nhất trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ công bố áp dụng tại tháng cuối cùng đóng bảo hiểm thất nghiệp.”

Quy định này nhằm bảo đảm quyền lợi tài chính cơ bản cho người lao động trong thời gian tìm kiếm việc làm mới. Mức trợ cấp được tính theo nguyên tắc “đóng – hưởng”, giúp người lao động giảm bớt khó khăn về thu nhập sau khi mất việc, nhưng vẫn phù hợp với khả năng cân đối của Quỹ bảo hiểm thất nghiệp. Giới hạn tối đa không quá 5 lần lương tối thiểu vùng là yếu tố quan trọng nhằm bảo đảm sự công bằng giữa các đối tượng thu nhập khác nhau và ổn định nguồn quỹ cho chính sách an sinh xã hội trong dài hạn.

Ngoài mức hưởng tối đa là có sự thay đổi, Luật mới giữ nguyên quy định về thời hạn tối đa được hưỡng bảo hiểm thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp, sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng trợ cấp thất nghiệp nhưng thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp tối đa 12 tháng.

  1. Chế tài đối với người lao động không thực hiện thông báo tìm việc trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp

Văn bản sửa đổi tiếp tục nhấn mạnh nghĩa vụ của người lao động trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp. Cụ thể, theo Điều 40 Luật Việc làm 2025 quy định:

“Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, hằng tháng, người lao động phải thông báo về việc tìm kiếm việc làm cho tổ chức dịch vụ việc làm công nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp.”

Trách nhiệm này nhằm khuyến khích người lao động tích cực tìm kiếm cơ hội việc làm, tránh việc hưởng trợ cấp mà không chủ động trở lại làm việc. Các chế tài liên quan được quy định tại Điều 41 Luật Việc làm 2025 như sau:

– Tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp: Nếu người lao động không thông báo việc tìm kiếm việc làm hằng tháng, trợ cấp thất nghiệp sẽ bị tạm dừng.

– Tiếp tục hưởng sau khi tạm dừng: Trong trường hợp người lao động khắc phục và thực hiện thông báo đúng quy định sau khi bị tạm dừng, họ sẽ được tiếp tục hưởng phần trợ cấp còn lại.

– Chấm dứt hưởng trợ cấp: Nếu người lao động không thông báo liên tiếp trong 03 tháng, trợ cấp thất nghiệp sẽ bị chấm dứt hoàn toàn.

Chế tài này chặt chẽ hơn so với quy định trước đây tại Luật Việc làm 2013, bởi Luật mới không chỉ quy định chấm dứt sau nhiều lần không thông báo mà còn bổ sung cơ chế tạm dừng và tiếp tục hưởng nếu khắc phục đúng quy định. Sự điều chỉnh này thể hiện mục tiêu vừa bảo vệ quyền lợi người lao động vừa thúc đẩy trách nhiệm tích cực trong tìm việc và tái hòa nhập thị trường lao động.

  1. Giảm tiền đóng BHTN cho đối tượng lao động khuyết tật

Luật sửa đổi có những quy định cụ thể hơn về mức đóng, trách nhiệm đóng và các trường hợp được giảm đóng bảo hiểm thất nghiệp, với nhiều điểm mới so với Luật Việc làm 2013.

Theo đó tại Khoản 6 Điều 33 quy định: “Người sử dụng lao động được giảm tiền đóng bảo hiểm thất nghiệp thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động phải đóng cho người lao động là người khuyết tật trong  thời gian không quá 12 tháng khi tuyển mới và sử dụng người lao động là người khuyết tật.”

Đặc biệt, khoản 7 Điều 33 nhấn mạnh nghĩa vụ đóng đủ trước khi người lao động chấm dứt hợp đồng để đảm bảo quyền lợi: “…Trường hợp người sử dụng lao động không đóng đủ bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thì phải trả khoản tiền tương ứng với các chế độ bảo hiểm thất nghiệp mà người lao động được hưởng…”.

Như vậy, trách nhiệm đóng bảo hiểm cho người khuyết tật do người lao động chịu trách nhiệm và phải trả khoản tiền tương ứng cho người lao động nếu không đóng bảo hiểm đủ theo quy định của pháp luật. Nhằm hướng đến mục đích vừa thực hiện nghĩa vụ pháp lý, đảm bảo an sinh xã hội, vừa mang lại lợi ích trực tiếp và gián tiếp, giúp NLĐ khuyết tật được bảo vệ khi mất việc, hỗ trợ học nghề, duy trì việc làm, đồng thời còn khuyến khích doanh nghiệp tạo việc làm cho nhóm lao động đặc thù này thông qua chính sách hỗ trợ từ Nhà nước.

Thanh Trà – Luật sư FDVN

…………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan