Feel free to go with the truth

Trang chủ / BÀI VIẾT & ẤN PHẨM CỦA FDVN / TỔNG HỢP 10 ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT HỘ TỊCH 2026 (Có hiệu lực từ 01 tháng 03 năm 2027)

TỔNG HỢP 10 ĐIỂM MỚI CỦA LUẬT HỘ TỊCH 2026 (Có hiệu lực từ 01 tháng 03 năm 2027)

Luật Hộ tịch số 03/2026/QH16 được Quốc hội khóa XVI thông qua ngày 23/4/2026 và có hiệu lực từ ngày 01/3/2027, thay thế Luật Hộ tịch năm 2014, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch. So với Luật Hộ tịch năm 2014, Luật mới bổ sung nhiều quy định theo hướng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối và khai thác dữ liệu hộ tịch, đồng thời phân định, điều chỉnh thẩm quyền giải quyết thủ tục hộ tịch phù hợp với yêu cầu quản lý trong giai đoạn mới.

Những thay đổi này không chỉ tác động đến cơ quan, người có thẩm quyền đăng ký, quản lý hộ tịch mà còn trực tiếp ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ và trình tự thực hiện thủ tục hộ tịch của cá nhân. Dưới đây, Luật sư FDVN tổng hợp 10 điểm mới đáng chú ý của Luật Hộ tịch năm 2026, cụ thể như sau:

  1. Mở rộng đối tượng có quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch:

Một trong những điểm mới đáng chú ý của Luật Hộ tịch năm 2026 là mở rộng phạm vi đối tượng có quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch. Theo khoản 1 Điều 5 Luật Hộ tịch năm 2026, công dân Việt Nam, người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch đang sinh sống tại Việt Nam, người không quốc tịch và người nước ngoài có quyền, nghĩa vụ đăng ký hộ tịch theo quy định của Luật, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác.

Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 5 Luật Hộ tịch năm 2026 quy định công dân Việt Nam có trách nhiệm thực hiện thủ tục ghi vào sổ hộ tịch đối với sự kiện, thông tin hộ tịch đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài. Quy định này góp phần bảo đảm sự thống nhất giữa thông tin hộ tịch được xác lập ở nước ngoài và thông tin được quản lý trong hệ thống hộ tịch của Việt Nam.

Đáng chú ý, khoản 3 Điều 5 Luật Hộ tịch năm 2026 cũng quy định người chưa thành niên, người thành niên mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện đăng ký hộ tịch thông qua người đại diện theo pháp luật.

So với khoản 1 Điều 6 Luật Hộ tịch năm 2014, phạm vi điều chỉnh trước đây chủ yếu được xác định đối với công dân Việt Nam, người không quốc tịch thường trú tại Việt Nam và công dân nước ngoài thường trú tại Việt Nam. Quy định mới đã mở rộng đối tượng áp dụng, đồng thời làm rõ hơn trách nhiệm đăng ký, ghi nhận thông tin hộ tịch phát sinh ở nước ngoài và cơ chế thực hiện quyền đăng ký hộ tịch đối với một số nhóm người cần được đại diện. Điều này góp phần bảo đảm quyền hộ tịch được thực hiện đầy đủ, thống nhất và phù hợp hơn với thực tiễn quản lý dân cư hiện nay.

  1. Chuẩn hóa thời hạn giải quyết thủ tục hộ tịch là 24 giờ:

Theo khoản 3 Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2026, đối với việc đăng ký hộ tịch mà pháp luật về hộ tịch không quy định thời hạn giải quyết thì phải được giải quyết trong 24 giờ kể từ thời điểm nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Ngoài ra, khoản 2 Điều 3 quy định mọi sự kiện hộ tịch của cá nhân phải được đăng ký đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và chính xác; trường hợp không đủ điều kiện đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật thì người đứng đầu cơ quan đăng ký hộ tịch từ chối bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Trong khi đó, khoản 3 Điều 5 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định theo hướng “giải quyết ngay trong ngày“.

Quy định mới lượng hóa cụ thể thời hạn giải quyết bằng số giờ thay vì khái niệm mang tính định tính như trước, góp phần tăng tính minh bạch, dễ giám sát và bảo đảm quyền lợi của người dân khi có căn cứ rõ ràng để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết đúng hạn.

  1. Thiết lập nguyên tắc “chỉ cung cấp thông tin một lần” và liên thông dữ liệu:

Tại khoản 6 Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2026 quy định tăng cường đăng ký hộ tịch chủ động, liên thông thủ tục đăng ký hộ tịch với các thủ tục liên quan, bảo đảm người dân chỉ cung cấp thông tin một lần. Theo khoản 7 Điều 3 Luật này, cơ quan đăng ký hộ tịch có trách nhiệm chủ động khai thác dữ liệu điện tử, tra cứu thông tin trong cơ sở dữ liệu liên quan phù hợp với mức độ đáp ứng của cơ sở dữ liệu; không yêu cầu người dân nộp, xuất trình hoặc tải lên giấy tờ là thành phần hồ sơ, trừ trường hợp không khai thác được thông tin hoặc thông tin khai thác được không đầy đủ, không chính xác. Bên cạnh đó, việc thu thập, xử lý, lưu trữ, chia sẻ, khai thác dữ liệu hộ tịch phải bảo đảm an toàn, bí mật, đúng mục đích, phù hợp với quy định của pháp luật về dữ liệu, pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Trong khi đó, khoản 2 Điều 9 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định cá nhân phải xuất trình giấy tờ chứng minh nhân thân khi làm thủ tục đăng ký hộ tịch.

Nguyên tắc “chỉ cung cấp thông tin một lần” giúp giảm đáng kể gánh nặng hành chính cho người dân, hạn chế tình trạng phải chuẩn bị, nộp lại nhiều loại giấy tờ cho các cơ quan khác nhau, đồng thời thúc đẩy việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ sở dữ liệu quốc gia.

  1. Mở rộng thẩm quyền đăng ký hộ tịch không phụ thuộc nơi cư trú:

Khoản 1 Điều 8 Luật Hộ tịch năm 2026 quy định: “Ủy ban nhân dân cấp xã không phụ thuộc vào nơi cư trú của cá nhân đăng ký các sự kiện, thông tin hộ tịch quy định tại Điều 4 của Luật này.”. Các sự kiện, thông tin được nhắc đến tại Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2026 là khai sinh, kết hôn, giám hộ, giám sát việc giám hộ, nhận cha, mẹ, con, thay đổi thông tin hộ tịch, tình trạng hôn nhân, khai tử…

 Khoản 2 Điều 8 Luật mới quy định Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền ký giấy tờ hộ tịch và được ủy quyền ký trong một số trường hợp, trừ giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn và giấy tờ hộ tịch trong trường hợp đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Theo khoản 3 Điều 8, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài đăng ký các sự kiện, thông tin hộ tịch quy định tại Điều 4 của Luật này cho công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài.

Trong khi đó, nhiều quy định của Luật Hộ tịch năm 2014 xác định thẩm quyền đăng ký hộ tịch theo nơi cư trú của cá nhân.

Quy định mới phù hợp với thực tiễn của một xã hội có tính di động cao hiện nay, giúp người dân tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại, đồng thời tạo điều kiện phân bổ lại khối lượng công việc giữa các địa phương, tránh tình trạng quá tải cục bộ.

  1. Công nhận giá trị pháp lý của của dữ liệu hộ tịch điện tử:

Theo khoản 1 Điều 9 Luật Hộ tịch năm 2026, giấy tờ hộ tịch, thông tin hộ tịch trong sổ hộ tịch, Cơ sở dữ liệu hộ tịch là căn cứ để điều chỉnh thông tin trong giấy tờ, hồ sơ, cơ sở dữ liệu khác của cá nhân; thông tin khai sinh là thông tin hộ tịch gốc của cá nhân. Đồng thời, khoản 3 Điều 9 quy định: “Dữ liệu hộ tịch điện tử gồm bản điện tử giấy tờ hộ tịch, dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch đáp ứng các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử, có giá trị như giấy tờ hộ tịch bản giấy khi thực hiện thủ tục hành chính và các giao dịch khác.”

Luật Hộ tịch năm 2014 chưa có quy định về giá trị tương đương giữa dữ liệu hộ tịch điện tử và bản giấy.

Việc công nhận giá trị pháp lý của dữ liệu điện tử tạo cơ sở để người dân, tổ chức, cơ quan nhà nước sử dụng trực tiếp dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu hộ tịch mà không cần xuất trình, nộp bản sao chứng thực như trước, qua đó cắt giảm nhiều bước trung gian trong thủ tục hành chính.

  1. Thay đổi phương thức trả kết quả, ưu tiên bản điện tử:

Khoản 1 Điều 10 Luật Hộ tịch năm 2026 quy định người yêu cầu đăng ký hộ tịch được lựa chọn nộp hồ sơ trực tuyến, gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính hoặc nộp hồ sơ trực tiếp. Khoản 2 Điều 10 quy định thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký kết hôn, đăng ký khai tử được trả kết quả là bản giấy và bản điện tử; các thủ tục đăng ký hộ tịch khác được trả kết quả là bản điện tử, kết quả bản giấy chỉ được cấp khi người đăng ký hộ tịch có yêu cầu. Người đăng ký hộ tịch được lựa chọn nhận kết quả bản giấy qua dịch vụ bưu chính hoặc trực tiếp tại cơ quan đăng ký, quản lý hộ tịch.

Trong khi đó, Điều 62 và Điều 63 Luật Hộ tịch 2014 quy định việc cấp bản chính và bản sao trích lục hộ tịch chủ yếu dưới dạng giấy.

Việc chuyển đổi phương thức trả kết quả theo hướng ưu tiên bản điện tử phù hợp với xu hướng số hóa thủ tục hành chính, giúp rút ngắn thời gian, giảm chi phí in ấn, lưu trữ và tạo thuận lợi cho người dân trong quá trình sử dụng kết quả giải quyết thủ tục.

  1. Bổ sung cơ chế đăng ký hộ tịch chủ động (tự động hóa):

Theo khoản 2 Điều 15 Luật Hộ tịch 2026, Ủy ban nhân dân cấp xã, theo lựa chọn của người yêu cầu đăng ký khai sinh, có trách nhiệm chủ động thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em khi dữ liệu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được kết nối, chia sẻ tự động tới hệ thống đăng ký, quản lý hộ tịch điện tử. Tương tự, khoản 2 Điều 20 quy định Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết có trách nhiệm chủ động thực hiện đăng ký khai tử khi dữ liệu của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được kết nối, chia sẻ tự động tới hệ thống. Theo Điều 29 Luật Hộ tịch 2026, việc đăng ký khai sinh, khai tử chủ động được thực hiện theo lộ trình của Chính phủ, bảo đảm thực hiện thống nhất trên toàn quốc chậm nhất từ ngày 01/01/2031.

Trong khi đó, khoản 1 Điều 15 Luật Hộ tịch năm 2014 quy định trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày sinh con, cha hoặc mẹ có trách nhiệm đăng ký khai sinh cho con.

Cơ chế đăng ký chủ động chuyển từ tư duy “người dân yêu cầu” sang “Nhà nước chủ động phục vụ“, tận dụng kết nối dữ liệu giữa cơ sở khám chữa bệnh và hệ thống hộ tịch điện tử, qua đó giảm thiểu tình trạng chậm đăng ký khai sinh, khai tử vốn thường xảy ra trên thực tế.

  1. Bổ sung “tình trạng hôn nhân” và nội dung đăng ký hộ tịch:

Khoản 1 Điều 4 Luật Hộ tịch năm 2026 quy định nội dung đăng ký hộ tịch bao gồm: khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi thông tin hộ tịch; tình trạng hôn nhân; khai tử.

Trong khi đó, Điều 3 Luật Hộ tịch năm 2014 không quy định “tình trạng hôn nhân” là một nội dung đăng ký hộ tịch.

Việc bổ sung này giúp đưa thông tin tình trạng hôn nhân vào hệ thống dữ liệu hộ tịch thống nhất thay vì quản lý rời rạc như trước, tạo thuận lợi cho việc xác minh, tra cứu và liên thông thông tin này với các thủ tục hành chính, dân sự khác có liên quan.

  1. Mở rộng phạm vi thay đổi thông tin hộ tịch:

Khoản 2 Điều 19 Luật Hộ tịch năm 2026 quy định phạm vi thay đổi thông tin hộ tịch gồm:

– Thay đổi họ, chữ đệm, tên;

– Thay đổi quê quán;

– Thay đổi thông tin cha, mẹ, dân tộc, quê quán khi nhận con nuôi;

– Xác định lại dân tộc;

– Cải chính thông tin hộ tịch;

– Bổ sung thông tin hộ tịch còn thiếu;

– Điều chỉnh thông tin hộ tịch do biến động thông tin;

– Các trường hợp khác theo quy định pháp luật.

Khoản 3 Điều 19 còn quy định thẩm quyền thay đổi thông tin hộ tịch áp dụng cho công dân Việt Nam, công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài và người gốc Việt Nam chưa xác định quốc tịch đã đăng ký hộ tịch tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

Trong khi đó, khoản 1 Điều 26 Luật Hộ tịch năm 2014 chỉ quy định về thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân, và thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh.

Việc mở rộng phạm vi điều chỉnh đáp ứng nhu cầu thực tế phát sinh nhiều loại biến động thông tin nhân thân của cá nhân, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng hơn cho cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết các yêu cầu thay đổi thông tin hộ tịch đa dạng của người dân.

  1. Nâng cấp Cơ sở dữ liệu hộ tịch thành cơ sở dữ liệu quốc gia, quản lý tập trung:

Khoản 1 Điều 24 Luật Hộ tịch năm 2026 quy định: “Cơ sở dữ liệu hộ tịch là cơ sở dữ liệu quốc gia, được xây dựng tập trung, thống nhất từ trung ương đến địa phương, do Bộ Tư pháp quản lý.” Cơ sở dữ liệu hộ tịch phải bảo đảm kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu khác; bảo đảm quyền khai thác thông tin; lưu trữ đầy đủ thông tin hộ tịch của cá nhân qua các lần cập nhật, điều chỉnh và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân. Ngoài ra, Điều 25 Luật Hộ tịch năm 2026 quy định chi tiết các trường dữ liệu trong Cơ sở dữ liệu hộ tịch như họ tên, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, giới tính, quốc tịch, quê quán, tình trạng nhân thân, thông tin cha mẹ, vợ chồng, thông tin đăng ký hộ tịch, dữ liệu khai tử, dữ liệu số hóa từ sổ hộ tịch giấy.

Trong khi đó, khoản 1 Điều 59 Luật Hộ tịch năm 2014 chỉ quy định cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được lập để lưu giữ, cập nhật, quản lý, tra cứu thông tin hộ tịch.

Việc nâng cấp thành cơ sở dữ liệu quốc gia, quản lý tập trung, thống nhất tạo nền tảng kỹ thuật quan trọng để triển khai đồng bộ các quy định về liên thông dữ liệu, chỉ cung cấp thông tin một lần và giá trị pháp lý của dữ liệu điện tử nêu tại các điểm mới ở trên.

…………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan