Feel free to go with the truth

Trang chủ / BÀI VIẾT & ẤN PHẨM CỦA FDVN / Quy định mới của pháp luật về điện Năng lượng Mặt trời theo Nghị định 243/2026/NĐ-CP có hiệu lực ngày 26/06/2026

Quy định mới của pháp luật về điện Năng lượng Mặt trời theo Nghị định 243/2026/NĐ-CP có hiệu lực ngày 26/06/2026

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Khủng hoảng năng lượng và áp lực giảm phát thải toàn cầu đang đặt ra yêu cầu cấp bách cho Việt Nam trong việc đa dạng hóa các nguồn năng lượng tái tạo. Trong đó, điện mặt trời mái nhà – với lợi thế tận dụng diện tích sẵn có, không tốn diện tích đất và giảm áp lực truyền tải lên hệ thống lưới điện quốc gia – đang là xu hướng tất yếu. Dù vậy, hành trình chuyển dịch này chỉ thực sự bền vững khi có một “bệ đỡ” pháp lý vững chắc, cân bằng được lợi ích giữa nhà nước, doanh nghiệp cung ứng và người sử dụng.

Sự ra đời của Nghị định số 135/2024/NĐ-CP và đặc biệt là bước ngoặt từ Nghị định số 243/2026/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 57/2025/NĐ-CP và Nghị định số 58/2025/NĐ-CP) mang tính tháo gỡ nút thắt mang tính nhất quán cho ngành điện. Từ chỗ kiểm soát chặt chẽ bằng các “ranh giới cứng” để chống quá tải lưới, Nhà nước đã chuyển dịch mạnh mẽ sang cơ chế khuyến khích tự chủ thương mại đi kèm các quy chuẩn kỹ thuật rõ ràng.

II. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐIỆN MẶT TRỜI VIỆT NAM

Thị trường điện mặt trời Việt Nam đã trải qua các giai đoạn phát triển gắn liền với các mốc thời gian cụ thể của từng văn bản quy phạm pháp luật:

Giai đoạn 2017-2019 (Cơ chế giá FIT 1): Triển khai theo Quyết định số 11/2017/QĐ-TTg, đây là giai đoạn khởi phát với mức giá mua điện cố định rất hấp dẫn (9,35 cent/kWh), tạo ra làn sóng đầu tư bùng nổ vào các dự án điện mặt trời.

Giai đoạn 2020 (Cơ chế giá FIT 2): Theo Quyết định số 13/2020/QĐ-TTg, mức giá FIT giảm xuống còn 8,38 cent/kWh và thắt chặt đối tượng áp dụng. Sau ngày 31/12/2020, cơ chế giá FIT chính thức khép lại, mở ra một khoảng trống pháp lý về định giá mua bán điện cho các dự án phát triển sau đó.

Giai đoạn 2021 – 2023 (Giai đoạn chững lại): Do thiếu cơ chế giá thay thế, thị trường dịch chuyển từ đầu tư thương mại sang các dự án quy mô nhỏ, phục vụ nhu cầu tự dùng nội bộ và không phát lên lưới.

Giai đoạn 2024 – 2025 (Định hình mô hình tự sản, tự tiêu): Sự ra đời của Quy hoạch điện VIII, Nghị định số 135/2024/NĐ-CP,  Nghị định 57/2025/NĐ-CP, Nghị định 58/2025/NĐ-CP đã thiết lập hành lang pháp lý mới, định hướng mạnh sang mô hình “tự sản xuất, tự tiêu thụ”, giới hạn nghiêm ngặt tỷ lệ điện dư phát lên lưới.

Giai đoạn từ năm 2026 – đến nay (Mở rộng thương mại hóa): Chính phủ đã ban hành Nghị định 243/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 57/2025/NĐ-CP quy định cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn và Nghị định 58/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về phát triển điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới.

III. NHỮNG ĐIỂM MỚI CỐT LÕI THEO NGHỊ ĐỊNH SỐ 243/2026/NĐ-CP

Nội dung Nghị định 57/2025/NĐ-CP Nghị định 243/2026/NĐ-CP Điểm nhấn
1.Phạm vi điều chỉnh

Điều 1: Nghị định này quy định về cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và khách hàng sử dụng điện lớn.

Khoản 1, Điều 1: Nghị định này quy định về cơ chế mua bán điện trực tiếp giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm.”

– Nếu như trước đây, cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) chỉ công nhận hai chủ thể chính: Bên phát điện (gió, mặt trời…) và Bên tiêu thụ trực tiếp (các tập đoàn, nhà máy lớn có mức tiêu thụ điện cao). Thì đến Nghị định 243/2026/NĐ-CP đã chính thức luật hóa vai trò của các công ty hạ tầng, đơn vị bán lẻ điện nội khu (ví dụ: Ban quản lý hoặc đơn vị vận hành điện trong các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Cụm công nghiệp).

2. Cơ chế mua bán điện trực tiếp

Điều 4:

1. Mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện kết nối riêng  là hoạt động ký hợp đồng mua bán điện và giao nhận điện năng trực tiếp qua lưới điện kết nối riêng giữa Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và Khách hàng sử dụng điện lớn theo quy định.

2. Mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện quốc gia là hoạt động mua bán điện và giao nhận điện năng giữa Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo và Khách hàng sử dụng điện lớn (hoặc Đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm được ủy quyền)

Khoản 4 Điều 1:

1. Mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện kết nối riêng là hoạt động giao kết hợp đồng mua bán điện và giao nhận điện năng trực tiếp qua lưới điện kết nối riêng giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm theo quy định.

2. Mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện quốc gia là hoạt động giao kết hợp đồng mua bán điện và giao nhận điện năng giữa đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, khách hàng sử dụng điện lớn, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trừ khu đô thị, khu thương mại tự do) và các đơn vị có liên quan theo quy

Như vậy, tại quy định cũ, các Đơn vị bán lẻ điện ở các khu công nghiệp muốn tham gia mua bán điện qua lưới quốc gia phải đi theo đường “được ủy quyền” từ khách hàng lớn. Điều này gây vướng mắc lớn về dòng tiền, xuất hóa đơn và trách nhiệm pháp lý giữa bên ủy quyền và bên được ủy quyền. Đến Nghị định 243/2026/NĐ-CP Đơn vị bán lẻ là một chủ thể độc lập, có đầy đủ tư cách giao kết hợp đồng kỳ hạn với nhà máy phát điện và hợp đồng mua bán điện với EVN. Quy định mới mở ra một mô hình kinh doanh hoàn toàn mới: Ban quản lý/Đơn vị hạ tầng khu công nghiệp tự bỏ vốn đầu tư nguồn năng lượng tái tạo (ví dụ: phủ kín điện mặt trời mái nhà trên các nhà xưởng bỏ trống hoặc hệ thống sân bãi, hạ tầng kỹ thuật), sau đó kéo lưới riêng bán trực tiếp cho các nhà máy (khách hàng lớn) nội khu.

Nghị định 243/2026/NĐ-CP cũng loại trừ “khu đô thị, khu thương mại tự do” nhằm mục đích ngăn chặn việc trục lợi chính sách hoặc làm phức tạp hóa thị trường điện bán lẻ tại các khu vực dân cư, đô thị.

3. Trách nhiệm của các Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo Điều 7: Các đơn vị phát triển điện năng lượng tái tạo phải tuân thủ: Điều độ, vận hành hệ thống điện quốc gia, hệ thống truyền tải điện, phân phối điện, đo đếm điện năng; các quy định về an toàn trong phát triện, truyền tải điện; thực hiện quy định của pháp luật về đầu tư, xây dựng, đất đai, phòng cháy chữa cháy, phòng chống cháy nổ, bảo vệ môi trường….. Khoản 8 Điều 1: Giữ các quy định tại Điều 7 của Nghị định 57, bổ sung thêm nội dung: “3. Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo đầu tư, lắp đặt nguồn điện mặt trời mái nhà bán điện trực tiếp cho khách hàng sử dụng điện lớn không phải thực hiện thủ tục đăng ký phát triển nguồn điện mặt trời mái nhà.”.

Như vậy: Đối với mô hình Lưới điện kết nối riêng (DPPA tự sản tự tiêu/bán trực tiếp), Nhà nước trao quyền tự quyết hoàn toàn cho sự thỏa thuận giữa Đơn vị phát điện và Khách hàng lớn. Do dòng điện này không chạy qua lưới điện quốc gia, không gây áp lực lên hệ thống điều độ của EVN, nên Chính phủ đã mạnh dạn cắt bỏ hoàn toàn thủ tục đăng ký phát triển.

4. Sản lượng điện dư của Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo đầu tư, lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà

Khoản 3, Điều 6: Sản lượng điện dư của Đơn vị phát điện năng lượng tái tạo đầu tư, lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà bán cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực không quá 20% sản lượng điện thực phát. Giá mua bán sản lượng điện dư là giá điện năng thị trường điện bình quân của năm trước liền kề do Đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện công bố và không vượt quá mức giá tối đa của khung giá phát điện của loại hình điện mặt trời mặt đất. Điểm d, khoản 6 Điều 1:

Sản lượng điện dư của đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trong trường hợp đơn vị này đầu tư nguồn điện mặt trời mái nhà bán điện cho khách hàng sử dụng điện lớn theo cơ chế mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện kết nối riêng) đầu tư, lắp đặt nguồn điện mặt trời mái nhà bán cho Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực không quá 50% sản lượng điện thực phát. Giá mua bán sản lượng điện dư là giá điện năng thị trường điện bình quân của năm trước liền kề do đơn vị vận hành hệ thống điện và thị trường điện công bố nhưng không cao hơn mức giá tối đa của khung giá phát điện của loại hình điện mặt trời mặt đất tương ứng.”

Theo đó, đơn vị phát điện năng lượng tái tạo, đơn vị bán lẻ điện tại các mô hình khu, cụm (trong trường hợp đơn vị này đầu tư nguồn điện mặt trời mái nhà bán điện cho khách hàng sử dụng điện lớn theo cơ chế mua bán điện trực tiếp thông qua lưới điện kết nối riêng) đầu tư, lắp đặt nguồn điện mặt trời mái nhà được quyền bán điện dư từ 20% lên 50% cho Tổng công ty Điện lực, Công ty Điện lực. Đây là một quy định nhằm thúc đẩy năng  suất sản xuất của các đơn vị phát điện năng lượng tái tạo. Là cơ sở gia tăng nguồn cung  năng lược điện sạch cho lưới điện quốc .

5. Đối tượng được bán sản lượng điện dư

Khoản 1, Điều 14 Nghị định 58/2025/NĐ-CP:

1. Đối tượng được bán sản lượng điện dư gồm:
a) Nguồn điện mặt trời mái nhà có đấu nối với hệ thống điện quốc gia thuộc quy mô công suất phát triển trong quy hoạch phát triển điện lực, kế hoạch thực hiện quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện trong quy hoạch tỉnh, trừ đối tượng quy định tại điểm b, điểm c khoản này;
b) Nguồn điện mặt trời lắp đặt trên mái nhà của công trình nhà ở riêng lẻ có công suất nhỏ hơn 100 kW đấu nối vào lưới điện của Bên mua điện dư;
c) Nguồn điện mặt trời mái nhà của tổ chức, cá nhân lắp đặt trên mái công trình xây dựng tại khu vực miền núi, biên giới, hải đảo có lưới điện nhưng chưa đấu nối, liên kết với hệ thống điện quốc gia.

Khoản 8, Điều 2:

8. Sửa đổi, bổ sung Điều 14 như sau:
“1. Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ được bán sản lượng điện dư theo quy định tại Nghị định này gồm:
a) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ của hộ gia đình sử dụng nhà ở riêng lẻ;
b) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ đấu nối với hệ thống điện quốc gia tại cấp điện áp hạ áp;

c) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ lắp đặt tại khu vực miền núi, biên giới, hải đảo có lưới điện nhưng chưa đấu nối, liên kết với hệ thống điện quốc gia;
d) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ lắp đặt tại công trình là tài sản công. Việc mua bán sản lượng điện dư của nguồn điện này phải bảo đảm tuân thủ quy định tại Nghị định này, quy định pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công, quy định pháp luật khác có liên quan và phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Bên bán điện dư;
đ) Nguồn điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ khác có đấu nối với hệ thống điện quốc gia và thuộc quy mô công suất phát triển trong quy hoạch phát triển điện lực, kế hoạch thực hiện quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện trong quy hoạch tỉnh.

Theo đó Nghị định 243 đã mở hẳn một điểm riêng (Điểm d), tạo hành lang pháp lý cho phép khối tài sản công bán sản lượng điện dư lên lưới, miễn là bảo đảm tuân thủ các quy định về quản lý tài sản công và phù hợp với chức năng nhiệm vụ của cơ quan đó. Đây là nguồn thu giúp các đơn vị công lập tối ưu hóa chi phí vận hành.

– hộ gia đình nhà ở riêng lẻ (Điểm a) và các nguồn đấu nối tại cấp điện áp hạ áp (Điểm b) đều có thể bán sản lượng dư không khống chế công suất đấu nối. Điều này vừa đảm bảo an toàn lưới điện tại chỗ, vừa cởi trói về mặt quy mô công suất cho người dân.

IV. KẾT LUẬN

Tóm lại, hệ thống quy định pháp luật mới về năng lượng tái tạo – đặc biệt là những bước chuyển dịch mang tính đột phá từ Nghị định số 243/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung cho các quy định trước đây – đã đánh dấu một chương mới trong tư duy quản lý năng lượng của Chính phủ. Thay vì áp dụng cơ chế kiểm soát nghiêm ngặt bằng ranh giới cứng, pháp luật hiện hành đã chuyển dịch mạnh mẽ sang tư duy khuyến khích thương mại hóa, khơi thông nguồn lực và ứng dụng công nghệ hiện đại. Đây không chỉ là những giải pháp tháo gỡ nút thắt tài chính, rút ngắn thời gian hoàn vốn cho doanh nghiệp, mà còn là hành lang pháp lý vững chắc thúc đẩy xu hướng “xanh hóa” toàn diện các khu, cụm công nghiệp tại Việt Nam.

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan