Feel free to go with the truth

Trang chủ / BÀI VIẾT & ẤN PHẨM CỦA FDVN / PHÂN ĐỊNH RANH GIỚI GIỮA QUAN HỆ DÂN SỰ VÀ TỘI PHẠM LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG GIAO DỊCH VAY MƯỢN

PHÂN ĐỊNH RANH GIỚI GIỮA QUAN HỆ DÂN SỰ VÀ TỘI PHẠM LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN TRONG GIAO DỊCH VAY MƯỢN

1. Đặt vấn đề

Trong thực tiễn giải quyết các tranh chấp liên quan đến hợp đồng vay tài sản, một tình huống thường xuyên phát sinh là bên vay sau khi nhận tiền đã không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn. Khi đó, bên cho vay có thể cho rằng mình bị bên vay “lừa”, thậm chí yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng xử lý hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tuy nhiên, việc một người vay tiền rồi không trả được nợ không đồng nghĩa với việc người đó phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đây là ranh giới có ý nghĩa đặc biệt quan trọng giữa quan hệ pháp luật dân sự và trách nhiệm hình sự.

Về nguyên tắc, pháp luật hình sự chỉ can thiệp khi hành vi của người vay đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm được pháp luật hình sự quy định, không hình sự hóa các “giao dịch dân sự”. Vấn đề cốt lõi không phải đơn thuần là “có vay tiền nhưng không trả hay không”, mà phải xác định ý thức chiếm đoạt và thủ đoạn gian dối của người vay xuất hiện ở thời điểm nào, được thực hiện như thế nào và có phải là nguyên nhân trực tiếp làm cho người cho vay giao tài sản hay không.

2. Căn cứ pháp lý về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tội phạm này có đặc trưng ở hành vi khách quan của người phạm tội là hành vi gian dối. Người phạm tội đưa ra thông tin không đúng sự thật, tạo dựng tình huống hoặc sử dụng thủ đoạn nhằm làm cho chủ tài sản tin đó là sự thật mà giao tài sản cho người phạm tội. Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa ra thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói, bằng chữ viết (viết thư), bằng hành động và bằng nhiều hình thức khác.

Với tội phạm này, có ý định chiếm đoạt trước khi sử dụng các thủ đoạn gian dối và có hành vi chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn gian dối xuất hiện trước khi tiến hành giao tài sản giữa nạn nhân với người phạm tội. Do tin vào thông tin gian dối, chủ tài sản tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội; sau khi nhận được tài sản, người phạm tội chiếm đoạt tài sản đó.

Như vậy, điểm đặc trưng của tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thủ đoạn gian dối phải có trước hoặc đồng thời với thời điểm người phạm tội nhận tài sản và phải nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản ngay từ đầu.

Đây cũng chính là căn cứ quan trọng nhất để phân biệt tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với trường hợp vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong quan hệ vay tài sản.

3. Không phải mọi trường hợp vay tiền rồi không trả đều là lừa đảo

3.1. Cần xác định ý thức chiếm đoạt tại thời điểm vay

Trong giao dịch vay tài sản, một người có thể thực sự có nhu cầu vay tiền và có ý định trả nợ nhưng sau đó phát sinh các sự kiện ngoài dự kiến như kinh doanh thua lỗ, mất việc làm, tài sản bị mất giá, không thu hồi được khoản phải thu hoặc gặp khó khăn về tài chính.Trong trường hợp này, mặc dù người vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ nhưng chưa thể chỉ từ việc “không trả được tiền” mà kết luận người đó có ý thức chiếm đoạt tài sản.

Điều cần chứng minh là ngay tại thời điểm xác lập giao dịch vay, người vay đã có ý định dùng thủ đoạn gian dối để làm cho bên cho vay tin tưởng và giao tiền, trong khi thực chất người vay không có ý định thực hiện nghĩa vụ mà hướng tới việc chiếm đoạt số tiền đó.

Ví dụ, A vay B 500 triệu đồng để kinh doanh. Khi vay, A có hoạt động kinh doanh thực tế, có tài sản, có nguồn thu và cam kết trả nợ trong thời hạn 12 tháng. Sau đó, việc kinh doanh thua lỗ khiến A không có khả năng trả nợ. Trường hợp này, nếu không có chứng cứ chứng minh A đã gian dối ngay từ thời điểm vay nhằm chiếm đoạt tiền của B thì quan hệ giữa A và B về nguyên tắc quan hệ dân sự về hợp đồng vay tài sản, không cấu thành tội phạm lừa đảo.

3.2. Không trả nợ không đồng nghĩa với chiếm đoạt

Việc bên vay không trả nợ đúng hạn có thể cấu thành hành vi vi phạm nghĩa vụ dân sự theo Bộ luật Dân sự.

Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Theo đó, nếu bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ, bên cho vay có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ, yêu cầu trả lãi và trong trường hợp có thiệt hại thì có thể yêu cầu bồi thường theo quy định pháp luật.

Việc chuyển một tranh chấp dân sự thành vụ án hình sự chỉ có thể được đặt ra khi có đầy đủ căn cứ xác định hành vi của bên vay đã vượt ra khỏi phạm vi vi phạm nghĩa vụ dân sự và thỏa mãn các dấu hiệu của tội phạm.

4. Những dấu hiệu cần xem xét để phân địmh hai loại quan hệ

4.1. Thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt

Đây là tiêu chí đặc biệt quan trọng.

Nếu ý định chiếm đoạt có trước hoặc xuất hiện đồng thời với việc nhận tiền, người vay có thể bị xem xét về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu đồng thời có thủ đoạn gian dối và các dấu hiệu cấu thành khác.

Ngược lại, nếu tại thời điểm vay người vay có ý định thực hiện nghĩa vụ, nhưng sau khi nhận tiền mới phát sinh ý định không trả hoặc chiếm đoạt thì cần xem xét dưới góc độ pháp lý khác, tùy thuộc vào hành vi thực tế.

Chẳng hạn, A vay B 1 tỷ đồng với mục đích kinh doanh. Sau khi nhận tiền, hoạt động kinh doanh thất bại và A không còn khả năng thanh toán. Không thể chỉ dựa vào kết quả cuối cùng là “B mất tiền” để suy luận rằng A đã có ý định chiếm đoạt ngay từ đầu.

4.2. Thủ đoạn gian dối có phải là nguyên nhân làm phát sinh việc giao tài sản hay không?

Không phải mọi thông tin không chính xác mà người vay cung cấp đều đương nhiên cấu thành thủ đoạn gian dối của tội Lừa đảo.

Cần xác định:

– Người vay đã nói hoặc cung cấp thông tin gì;

– Thông tin đó có đúng sự thật hay không;

– Người vay có biết thông tin đó là sai hay không;

– Việc đưa ra thông tin sai có nhằm làm cho người cho vay tin tưởng hay không;

– Quan trọng nhất, nếu không có thông tin gian dối đó thì người cho vay có giao tiền hay không.

Ví dụ, A biết mình không sở hữu một căn nhà nhưng vẫn đưa ra giấy tờ giả và nói rằng căn nhà thuộc quyền sở hữu của mình để tạo niềm tin cho B vay tiền. Nếu chứng minh được thủ đoạn này là nguyên nhân khiến B giao tiền thì đây là dấu hiệu điển hình cần xem xét về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ngược lại, nếu hai bên quen biết, giao dịch dựa trên sự tin tưởng và người vay chỉ cam kết về khả năng trả nợ nhưng sau đó không thực hiện được thì chưa đủ cơ sở để kết luận có hành vi gian dối.

4.3. Khả năng trả nợ không đồng nghĩa với ý định trả nợ

Một sai lầm thường gặp trong quá trình đánh giá là đồng nhất việc người vay không có khả năng trả nợ với việc người vay không có ý định trả nợ.

Hai vấn đề này hoàn toàn khác nhau. Một người có thể có ý định trả nợ nhưng không có khả năng trả nợ. Ngược lại, một người có khả năng trả nợ nhưng cố tình không trả cũng chưa mặc nhiên cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Do đó, khi đánh giá trách nhiệm hình sự, cần xem xét tổng thể các chứng cứ về tình trạng tài chính, nguồn tiền, mục đích vay, quá trình sử dụng tiền, hoạt động kinh doanh, lịch sử trả nợ và các hành vi của người vay sau khi nhận tiền.

4.4. Mục đích sử dụng tiền vay

Mục đích sử dụng tiền cũng là một tình tiết quan trọng.

Nếu người vay trình bày một mục đích cụ thể nhưng ngay từ đầu đã không thực hiện mục đích đó và sử dụng thông tin giả tạo nhằm làm cho người cho vay giao tiền thì đây có thể là chứng cứ chứng minh thủ đoạn gian dối.

Tuy nhiên, việc sử dụng tiền khác với mục đích vay không tự động đồng nghĩa với lừa đảo.

Ví dụ, A vay tiền của B để kinh doanh nhưng sau đó dùng một phần tiền để trả khoản nợ đến hạn do phát sinh khó khăn tài chính. Hành vi này có thể vi phạm thỏa thuận giữa các bên, nhưng muốn xác định A phạm tội Lừa đảo vẫn phải chứng minh được yếu tố gian dối và ý thức chiếm đoạt theo cấu thành tội phạm.

5. Cần phân biệt Lừa đảo chiếm đoạt tài sản với Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Trong các giao dịch vay mượn, ngoài tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, một tội danh khác thường được đặt ra là Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Sự khác biệt cơ bản nằm ở phương thức mà người phạm tội có được tài sản.

Đối với Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối ngay từ trước hoặc tại thời điểm nhận tài sản, làm cho chủ tài sản tin tưởng và tự nguyện giao tài sản.

Trong khi đó, đối với Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, ban đầu việc giao tài sản được xác lập một cách hợp pháp trên cơ sở hợp đồng hoặc quan hệ tín nhiệm. Sau khi nhận tài sản, người nhận mới thực hiện các hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản và thuộc các trường hợp mà Điều 175 Bộ luật Hình sự quy định.

Chính vì vậy, trong vụ việc vay mượn, việc xác định thời điểm và phương thức hình thành ý định chiếm đoạt có ý nghĩa quyết định đối với việc định tội.

6. Thực tế giải quyết của các vụ án vay mượn có dấu hiệu hình sự

Thực tiễn cho thấy, ranh giới giữa tranh chấp dân sự và tội phạm thường bị nhầm lẫn khi chỉ dựa trên hậu quả là “người cho vay bị mất tiền”.

Cần tránh các cách suy luận như:

“Không trả tiền = chiếm đoạt.”

“Không có khả năng trả nợ = có ý định chiếm đoạt.”

“Bỏ đi khỏi nơi cư trú = lừa đảo.”

“Dùng tiền sai mục đích = lừa đảo.”

“Có nhiều người cùng tố cáo = chắc chắn có tội.”

Những suy luận trên chưa đủ để xác định trách nhiệm hình sự nếu không làm rõ các dấu hiệu cấu thành tội phạm.

Đặc biệt, trong tố tụng hình sự, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội. Việc kết tội phải dựa trên những chứng cứ được xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện và đủ để xác định hành vi phạm tội.

Ví dụ: Thông báo rút kinh nghiệm vụ án “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị hủy án để điều tra lại[1]

Nguyễn Văn Ch có quan hệ quen biết với gia đình Hoàng Thị Y nên nhiều lần vay tiền, lần thứ 1 vay 470.000.000 đồng vào ngày 21/9/2015, lần 2 vay 150.000.000 đồng vào ngày 10/12/2015. Cả hai lần, Nguyễn Văn Ch đều lập Hợp đồng vay có thời hạn, hai bên thỏa thuận lãi suất theo lãi suất Ngân hàng và ký xác nhận. Quá thời hạn, Ch chưa hoàn trả nợ và do liên lạc điện thoại không được nên ngày 12/9/2017, chị Y làm đơn tố cáo Nguyễn Văn Ch lừa đảo chiếm đoạt của 2 lần vay số tiền là 620.000.000 đồng.

Tuy nhiên, ngày 06/11/2017, Nguyễn Văn Ch và Hoàng Thị Y lập giấy cam kết trả nợ và xác định: Nguyễn Văn Ch nợ Hoàng Thị Y 620.000.000 đồng, cam kết đến ngày 30/11/2017 trả 50.000.000 đồng, sau 4 tháng trả tiếp 50.000.000 đồng và trả hàng tháng 5-7 triệu đồng. Thực tế, từ ngày 20/12/2017 đến ngày 02/7/2018, Ch đã 4 lần trả nợ cho chị Y thông qua chuyển khoản tại ngân hàng với tổng số tiền 30.000.000 đồng. Như vậy, Hợp đồng vay tiền của Nguyễn Văn Ch và Hoàng Thị Y vào ngày 21/9/2015 và ngày 10/12/2015 đã thay đổi bằng hợp đồng khác mà các bên đã thỏa thuận ngày 06/11/2017 là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và trước đó, ngày 14/11/2017, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh K đã có Thông báo số 778/PC-44 trả lời đơn tố cáo ngày 12/9/2017 và hướng dẫn bà Y khởi kiện đến Tòa án vì đây là quan hệ dân sự.

Thấy rằng Nguyễn Văn Ch có thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng không đúng như cam kết đã thỏa thuận ngày 06/11/2017 là có dấu hiệu lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thông qua hợp đồng vay mượn, nhưng cần phải điều tra làm rõ Nguyễn Văn Ch có thủ đoạn gian dối, bỏ trốn hay có điều kiện về tài sản để trả nhưng dây dưa không trả. Để xác định đúng hành vi và tội danh đối với Nguyễn Văn Ch, Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng Nguyễn Văn Ch đưa ra thông tin gian dối để lừa đảo chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng và tuyên xử bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là chưa đảm bảo quy định pháp luật.

Ví dụ 2: Thông báo rút kinh nghiệm vụ án hình sự bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án để điều tra lại số 93/TB-VC2-V1 ngày 09/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân cấp cap tại Đà Nẵng.

Nguyễn Văn Chín có quan hệ quen biết với gia đình Hoàng Thị Yến nên nhiều lần vay tiền, lần thứ 1 vay 470.000.000 đồng vào ngày 21/9/2015, lần 2 vay 150.000.000 đồng vào ngày 10/12/2015 cả hai lần, Nguyễn Văn Chín đều lập Hợp đồng vay có thời hạn lãi suất hai bên thỏa thuận theo lãi suất Ngân hàng và ký xác nhận. Quá thời hạn Chín chưa hoàn trả nợ và do liên lạc qua điện thoại không được nên ngày 12/9/2017 chị Yến làm đơn tố cáo Nguyễn Văn Chín lừa đảo chiếm đoạt của 2 lần vay với số tiền là 620.000.000 đồng. 

Tuy nhiên; ngày 06/11/2017 giữa Nguyễn Văn Chín và Hoàng Thị Yến lập giấy cam kết trả nợ và xác định: Nguyễn Văn Chín nợ Hoàng Thị Yến 620.000.000 đồng cam kết đến ngày 30/11/2017 trả 50.000.000 đồng, sau 4 tháng trả tiếp 50.000.000 đồng và hàng tháng trả dần từ 5-7 triệu đồng. Thực tế, từ ngày 20/12/2017 đến ngày 2/7/2018 Chín đã 4 lần trả nợ cho chị Yến thông qua chuyển khoản tại các ngân hàng với tổng số tiền 30.000.000 đồng. Như vậy; Hợp đồng vay tiền của Nguyễn Văn Chín và Hoàng Thị Yến vào ngày 21/9/2015 và ngày 10/12/2015 đã thay đổi bằng hợp đồng khác mà các bên đã thỏa thuận ngày 06/11/2017 là hoàn toàn tự nguyện không trái pháp luật và trước đó ngày 14/11/2017 Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh Kon Tum đã có thông báo số 778/PC-44 trả lời đơn tố cáo ngày 12/9/2017 và hướng dẫn bà Yến khởi kiện đến Tòa án vì đây là quan hệ dân sự. 

Thấy rằng, Nguyễn Văn Chín có thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng không đúng như cam kết đã thỏa thuận ngày 06/11/2017 là có dấu hiệu lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thông qua hợp đồng vay mượn, nhưng cần phải điều tra làm rõ Nguyễn Văn Chín có thủ đoạn gian dối, bỏ trốn hay có điều kiện về tài sản để trả nhưng dây dưa không trả, để xác định đúng hành vi và tội danh đối với Nguyễn Văn Chín. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng: Nguyễn Yăn Chín đưa ra thông tin gian dối để lừa đảo chiếm đoạt số tiền 150.000.000 đồng và tuyên xử bị cáo phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là chưa đảm bảo quy định của pháp luật.

7. Kết luận

Ranh giới giữa quan hệ dân sự về vay tài sảntội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản không nằm đơn thuần ở việc người vay có trả được tiền hay không, mà nằm ở bản chất của giao dịch và ý thức của người vay tại thời điểm nhận tài sản.

Nếu người vay thực sự xác lập giao dịch vay, có ý thức thực hiện nghĩa vụ nhưng sau đó phát sinh khó khăn dẫn đến không trả được nợ thì về nguyên tắc đây là vấn đề thuộc quan hệ dân sự.

Ngược lại, nếu ngay từ đầu người vay đã sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm tạo dựng sự tin tưởng, làm cho bên cho vay giao tài sản và mục đích thực sự là chiếm đoạt tài sản thì có thể bị xử lý về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy, trong quá trình giải quyết các vụ việc liên quan đến vay mượn, cần đặc biệt chú trọng việc xác định (i) thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt; (ii) thủ đoạn gian dối; (iii) mối quan hệ nhân quả giữa thủ đoạn gian dối và việc giao tài sản; và (iv) diễn biến thực tế trước, trong và sau khi nhận tiền.

Việc phân định đúng ranh giới này không chỉ bảo đảm xử lý nghiêm minh hành vi phạm tội mà còn góp phần ngăn ngừa tình trạng hình sự hóa các quan hệ dân sự, kinh tế, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong giao dịch vay mượn.

[1] Nguồn: https://vksndtc.gov.vn/tintuc/Pages/lists.aspx?Cat=10&ItemID=7180

…………….

Luật sư tại Đà Nẵng

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan