Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGUYÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Huỷ án sơ thẩm do các chứng cứ mà nguyên đơn và bị đơn cung cấp tại phiên tòa sơ thẩm đều là chứng cứ mới, chưa được cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá

[NGUYÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY] – Huỷ án sơ thẩm do các chứng cứ mà nguyên đơn và bị đơn cung cấp tại phiên tòa sơ thẩm đều là chứng cứ mới, chưa được cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn nộp trong thời hạn theo quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày nguyên đơn xin rút kháng cáo. Xét việc rút kháng cáo của nguyên đơn là tự nguyện, phù hợp với quy định tại điểm b khoản 1 Điều 289 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của nguyên đơn.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn thấy rằng:

[2.1] Về việc phân chia tài sản chung:

Bà Trần Thị T khởi kiện yêu cầu chia tài chung của bà T và ông T1 trong thời kỳ hôn nhân đối với thửa đất số 1546, tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 222,4m2 và tài sản gắn liền với đất, phương thức chia đôi mỗi người một nửa, bà T yêu cầu nhận hiện vật và thanh toán giá trị cho ông T1. Ông T1 thống nhất tài sản chung nêu trên và đồng ý chia đôi tài sản chung mỗi người một nửa nhưng yêu cầu tự bán rồi chia đôi. Ông T1 không đồng ý với giá do Hội đồng định giá xác định cho rằng giá đất tranh chấp hiện nay là 16.000.000 đồng/m2 và tài sản được xây dựng năm 2019, chi phí hơn 1.400.000.000 đồng.

Theo Biên bản định giá tài sản ngày 01/4/2025: Thửa đất số 1546, tờ bản đồ số 13, tại phường L, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích đất 222,4m2 x 13.000.000 đồng/m2 = 2.891.200.000 đồng. Tài sản trên đất: 01 căn kiot và 08 căn nhà trọ diện tích 129,6m2 x 3.000.000 đồng/m2 = 388.800.000 đồng; 01 căn nhà diện tích 123,6m2 x 4.500.000 đồng/m2 = 556.200.000 đồng; tổng giá trị tài sản là 945.000.000 đồng. Tổng giá trị nhà, đất là 3.836.200.000 đồng.

Ông T1 không đồng ý kết quả định giá nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho việc yêu cầu định giá lại nên không có căn cứ định giá lại theo quy định tại khoản 5 Điều 104 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng để cho bà T có điều kiện tiếp tục duy trì cuộc sống ổn định hiện tại nuôi con chưa thành niên nên chia cho bà T được quyền sử dụng, sở hữu tài sản chung bằng hiện vật là thửa đất số 1546 và tài sản gắn liền với thửa đất này, bà T có nghĩa vụ hoàn lại ông T1 một nửa giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là phù hợp quy định tại Điều 59 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2] Về nghĩa vụ về tài sản chung:

Bà T và ông T1 vay vốn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á1 tổng cộng là 1.700.000.000 đồng, trong đó vay trong thời kỳ hôn nhân là 1.200.000.000 đồng, vay sau khi ly hôn là 500.000.000 đồng. Đến thời điểm ly hôn, bà T và ông T1 đã trả được số tiền 135.857.230 đồng (gồm nợ gốc và lãi), số tiền đã trả này bà T không yêu cầu giải quyết.

Tại Tòa án cấp sơ thẩm, bà T xác định từ tháng 10/2022 đến ngày 23/9/2023 đã trả cho Ngân hàng số tiền 1.156.380.901 đồng (gồm nợ gốc và lãi), đây là tiền riêng của bà T nên bà T yêu cầu khấu trừ vào giá trị tài sản hoàn trả cho ông T1 và nghĩa vụ trả nợ Ngân hàng. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bà T và bà T nhiều lần xác nhận lại số tiền đã trả cho Ngân hàng, khi tổng số tiền đã trả cho Ngân hàng là 1.240.059.732 đồng, khi lại là số tiền 1.290.504.732 đồng. Đồng thời, nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận vào tháng 4/2024 đã chuyển nhượng một phần tài sản chung được số tiền 3.200.000.000 đồng và đã chia đôi mỗi người 1.600.000.000 đồng, nhưng bà T trình bày phần của ông T1 đã dùng một nửa để trả nợ tiền cọc và nợ vay riêng của ông T1 với người khác, phần còn lại ông T1 đã nhận qua chuyển khoản. Ông T1 xác định chỉ nhận hơn 840.000.000 đồng, phần còn lại giao cho bà T trả nợ Ngân hàng và trả nợ qua cơ quan Thi hành án 180.000.000 đồng. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn nộp nhiều chứng cứ mới, có chứng cứ được phía còn lại thừa nhận, có chứng cứ không được thừa nhận nhưng hai đều chưa thống nhất việc đã thanh toán bao nhiêu tiền cho Ngân hàng; đồng thời số tiền nguyên đơn khai tại cấp phúc thẩm thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng vượt quá số tiền đã yêu cầu cấp sơ thẩm xem xét và phát sinh số tiền 3.200.000.000 đồng. Do đó, Tòa án cấp phúc thẩm không thể xem xét, đánh giá chứng cứ mới này, vì nếu đánh giá tính khấu trừ sẽ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của cả hai bên đương sự.

[2.3] Từ những phân tích nêu trên xét thấy, các chứng cứ do nguyên đơn và bị đơn cung cấp tại phiên tòa sơ thẩm đều là chứng cứ mới, chưa được cấp sơ thẩm xem xét, đánh giá, đồng thời lời khai của đương sự còn chưa rõ, mâu thuẫn với chứng cứ đã cung cấp, số tiền trả nợ cho Ngân hàng còn mâu thuẫn, chưa xác định được cụ thể số tiền nguyên đơn và bị đơn đã trả cho Ngân hàng nên không thể khấu trừ quyền tài sản và nghĩa vụ về tài sản trong vụ án này. Do đó, để đảm bảo chứng cứ được xem xét công khai, minh bạch qua Tòa án hai cấp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm đối với phần nghĩa vụ về tài sản của bà T và ông T1 để giải quyết lại theo thủ tục chung. Tuy nhiên, do đây là vụ án tranh chấp tài sản chung và nợ chung sau khi ly hôn, việc phân chia tài sản có tính đến khấu trừ nghĩa vụ về tài sản chung nên cần hủy cả bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung mới đảm bảo việc giải quyết triệt để vụ án. Vì vậy, kháng cáo của bị đơn là có căn cứ chấp nhận một phần.

[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đề nghị hủy bản án sơ thẩm là phù hợp.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo không phải chịu theo quy định.

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 23/2026/DS-PT NGÀY 30/01/2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 23/2026/DS-PT NGÀY 30/01/2026

…………….

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan