
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của chị Võ Thị Thanh L được làm trong thời hạn luật định, hình thức và nội dung kháng cáo phù hợp quy định tại Điều 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung:
[2.1] Bà H khởi kiện yêu cầu chị L trả lại số nữ trang đã tặng cho chị L trong ngày đính hôn giữa chị L và anh N, gồm: 01 đôi bông tai kim cương 4ly4; 01 đôi lắc chuỗi bi 10 chỉ vàng 24K; 01 dây chuyền kết hoa 8,49 chỉ vàng 24K. Chị L không đồng ý vì cho rằng không nhận số nữ trang từ bà H mà anh N là người trực tiếp tặng cho chị L và bà H không có quyền đòi lại.
[2.2] Theo tài liệu, chứng cứ do bà H cung cấp, 02 hóa đơn mua vàng tại tiệm V không ghi tên người mua; phiếu mua kim cương tại cửa hàng K ghi người mua là anh N. Tuy nhiên, các chứng từ chuyển khoản thể hiện bà H đã chuyển một phần tiền để mua số trang sức này; anh N cũng thừa nhận đây là tài sản của bà H và đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H. Lời khai trên phù hợp với hình ảnh tại lễ đính hôn, lời khai của người làm chứng và phong tục địa phương về việc gia đình nhà trai chuẩn bị trang sức, chú rể trực tiếp trao cho cô dâu trong lễ hỏi. Do đó, có cơ sở xác định số trang sức tranh chấp có nguồn gốc là tài sản của bà H.
Chị L thừa nhận đã nhận 01 đôi bông tai, 01 đôi lắc chuỗi bi và 01 dây chuyền kết hoa nhưng không xác định được trọng lượng, trị giá. Căn cứ các hóa đơn mua vàng, kim cương do bà H cung cấp, có cơ sở xác định số trang sức bà H trao tại lễ đính hôn gồm: 01 đôi bông tai kim cương 4ly4; 01 đôi lắc chuỗi bi 10 chỉ vàng 985; 01 dây chuyền kết hoa 8,49 chỉ vàng 9999.
[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chị L trả lại toàn bộ số nữ trang đã tặng cho chị L trong ngày đính hôn, gồm: 01 đôi bông tai kim cương 4ly4; 01 đôi lắc chuỗi bi 10 chỉ vàng 24K và 01 dây chuyền kết hoa 8,49 chỉ vàng 24K. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, buộc chị L trả cho bà H 01 đôi lắc chuỗi bi và 01 dây chuyền kết hoa. Bà H không kháng cáo; chị L kháng cáo không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.
Do đó, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm chỉ xem xét phần bản án sơ thẩm bị kháng cáo, gồm 01 đôi lắc chuỗi bi 10 chỉ vàng 985 và 01 dây chuyền kết hoa 8,49 chỉ vàng 9999; phần yêu cầu khởi kiện không được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận và không có kháng cáo, kháng nghị không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm.
[4] Xét yêu cầu kháng cáo của chị L, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[4.1] Việc gia đình bà H trao nữ trang cho chị L tại lễ đính hôn tuy phù hợp với phong tục cưới hỏi ở một số địa phương, nhưng không có căn cứ xác định tồn tại một quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng, được hình thành, thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong cộng đồng, theo đó nữ trang đã trao tại lễ đính hôn phải được hoàn trả nếu đôi nam nữ không tiến tới hôn nhân. Do đó, không có cơ sở áp dụng tập quán theo Điều 5 Bộ luật Dân sự để xác định chị L có nghĩa vụ hoàn trả số nữ trang đã nhận. Quyền, nghĩa vụ của các bên đối với số nữ trang này phải được xem xét trên cơ sở thỏa thuận thực tế, phương thức giao nhận tài sản và các quy định của Bộ luật Dân sự về tặng cho tài sản.
[4.2] Theo Điều 457, khoản 1 Điều 458 Bộ luật Dân sự, đối với động sản không phải đăng ký quyền sở hữu, hợp đồng tặng cho có hiệu lực kể từ thời điểm bên được tặng cho nhận tài sản, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong vụ án này, bà H đã giao số nữ trang tại lễ đính hôn, chị L đã nhận và quản lý tài sản; do đó, việc tặng cho đã hoàn thành. Bà H cho rằng việc tặng nữ trang nhằm để anh N và chị L tạo lập cuộc sống sau khi kết hôn. Tuy nhiên, về pháp lý, mục đích hay mong muốn chủ quan của bên tặng cho không đồng nhất với điều kiện có hiệu lực của hợp đồng tặng cho tài sản.
[4.3] Để xác định một giao dịch là “tặng cho tài sản có điều kiện” theo Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015 phải có căn cứ chứng minh khi xác lập giao dịch, bên tặng cho đã đặt ra một nghĩa vụ cụ thể mà bên được tặng cho phải thực hiện trước hoặc sau khi nhận tài sản. Trong vụ án này, ngoài lời trình bày của bà H về mục đích tặng cho, hồ sơ không thể hiện khi giao nhận nữ trang, các bên có thỏa thuận điều kiện bắt buộc chị L phải kết hôn với anh N hoặc phải hoàn trả tài sản nếu việc kết hôn không diễn ra. Việc giao nhận nữ trang tại lễ đính hôn chỉ phản ánh hoàn cảnh và mục đích của việc tặng cho, không đủ căn cứ để mặc nhiên suy đoán việc kết hôn là điều kiện của giao dịch. Mặt khác, nếu cho rằng việc kết hôn là điều kiện của việc tặng cho thì điều kiện này cũng không phù hợp với nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình về việc kết hôn do nam, nữ tự nguyện quyết định, không bị ép buộc. Vì vậy, việc anh N và chị L không tiến tới hôn nhân không thể được xem là việc chị L không thực hiện nghĩa vụ của bên được tặng cho theo khoản 3 Điều 462 Bộ luật Dân sự.
[4.4] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xác định: Trường hợp tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được bên tặng cho giao và bên được tặng cho nhận, quản lý thì việc tặng cho đã hoàn thành. Việc tài sản được giao tại lễ đính hôn với mục đích để đôi nam nữ tiến tới hôn nhân không đương nhiên là tặng cho tài sản có điều kiện. Nếu không có căn cứ chứng minh khi giao nhận tài sản, các bên đã thỏa thuận bên được tặng cho phải kết hôn hoặc phải hoàn trả tài sản khi việc kết hôn không diễn ra thì việc hai bên không tiến tới hôn nhân không phải là căn cứ để bên tặng cho đòi lại tài sản.
[4.5] Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào việc lễ cưới không diễn ra để xác định số nữ trang bà H đã tặng cho chị L tại lễ đính hôn là tài sản tặng cho có điều kiện, buộc chị L trả cho bà H 01 đôi lắc chuỗi bi và 01 dây chuyền kết hoa là chưa đúng bản chất pháp lý của giao dịch. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của chị L và ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị L; không chấp nhận quan điểm giải quyết của Viện kiểm sát; sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Lệ H về việc buộc chị L hoàn trả số nữ trang nêu trên.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 1028/2026/DS-PT NGÀY 11-8-2026 CỦA TÒA ÁN NHÂN TỈNH TÂY NINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 1028/2026/DS-PT NGÀY 11-8-2026
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn