Feel free to go with the truth

Trang chủ / Dân sự / [NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY]- Tòa án áp dụng tinh thần Án lệ số 05/2016/AL khi xem xét công sức đóng góp các thành viên hộ gia đình

[NGHIÊN CỨU LUẬT MỖI NGÀY]- Tòa án áp dụng tinh thần Án lệ số 05/2016/AL khi xem xét công sức đóng góp các thành viên hộ gia đình

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh), ông Phan Quốc N, bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị Mỹ H4, ông Nguyễn Trọng K, ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị K1 tất cả đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự có tên trên.

[2] Về nội dung tranh chấp: Phần đất tranh chấp có tổng diện tích 19.257 m2 thuộc thửa đất số 617 (diện tích 17.823 m2) và thửa đất số 614 (diện tích 1.434 m2), đo đạc thực tế có diện tích 18.737,3 m2, tờ bản đồ số 33, tọa lạc xã C, huyện B (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh), đã được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 093787, số vào sổ 01596 QSDĐ/10108/QĐ-UB) ngày 30/11/2004 cho hộ bà Nguyễn Thị T. Nguyên đơn cho rằng các thửa đất tranh chấp trên là tài sản chung của hộ, chưa được phân chia nên yêu cầu phân chia theo quy định pháp luật; đề nghị tính công sức khai phá, tôn tạo, giữ gìn đất cho nguyên đơn. Nguyên đơn đồng ý với các yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phan Quốc N và bà Nguyễn Thị S và đồng ý nhận phần tài sản từ 02 người này tặng cho. Bị đơn cho rằng việc tranh chấp giữa các bên đã được giải quyết bằng Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2022/QĐST-DS ngày 07/01/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát nên không đồng ý với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đồng thời, bị đơn đề nghị Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án này và không tiếp tục giải quyết. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị S và ông Phan Quốc N đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cùng có đơn yêu cầu độc lập yêu cầu được nhận phần tài sản chung trong hộ và tự nguyện giao phần tài sản này cho ông P được toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt.

[3] Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, dựa vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X093787, số vào sổ 01596 QSDĐ/10108/QĐ-UB cấp ngày 30/11/2004 ghi là cấp cho hộ ông (bà) Nguyễn Thị T, tại phần ghi thêm của giấy chứng nhận thể hiện nội dung là: “khai phá năm 1956”.

[3.2] Tại Công văn số 701/TNMT-TTĐĐ ngày 26/5/2021 và Công văn số 2991/TNMT-TTĐĐ ngày 03/8/2023, Phòng Tài nguyên và Môi trường thị xã B xác định: Trong sổ hộ khẩu của bà Nguyễn Thị T tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm có các thành viên: Bà Nguyễn Thị T, cụ Nguyễn Văn N1 (chết năm 1992), cụ Nguyễn Thị M (chết năm 2006), bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Văn P và ông Nguyễn Quốc N2; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị T đúng trình tự, thủ tục, phù hợp với quy định của pháp luật. Như vậy, vào thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì hộ bà Nguyễn Thị T có 05 thành viên gồm: Bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị M, bà Nguyễn Thị S, ông Nguyễn Văn P và ông Phan Quốc N. Sau đó, bà Nguyễn Thị M đã chết ngày 28/7/2006.

[3.3] Trước năm 2020, phần đất tranh chấp nêu trên do ông P quản lý, sử dụng, trên đất có căn nhà cấp 4 của gia đình ông P. Tại Đơn khởi kiện về việc đòi tài sản ngày 10/8/2020, bà Nguyễn Thị T yêu cầu ông P trả lại nhà, đất cho bà T để bà T có chỗ ở và chia cho các con. Ông Nguyễn Quốc N2 (Phan Quốc N) là thành viên trong hộ gia đình nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không đưa vào tham gia tố tụng nên không có ý kiến gì về việc giải quyết vụ án. Ông Nguyễn Văn P có ý kiến đồng ý trả lại phần đất tranh chấp cho hộ bà T. Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát xác định quan hệ tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp đòi lại tài sản”; căn cứ vào sự thỏa thuận của các bên tại Biên bản hòa giải thành ngày 30/12/2021 để ban hành Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2022/QĐST-DS ngày 07/01/2022, có nội dung ông P đồng ý trả cho bà T: “phần đất có tổng diện tích 19.257m² thuộc thửa đất 617 và 614, tờ bản đồ số 33, tại xã C, huyện B (nay là phường C, thị xã B), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 093787, vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01596 QSDD/10108/QĐ-UB do Ủy ban nhân dân huyện B (nay là thị xã B) cấp cho Hộ bà Nguyễn Thị T ngày 30/11/2004 và 01 căn nhà cấp 4 (vách tường, nền gạch) gắn liền trên phần đất nêu trên. Bà Nguyễn Thị T có trách nhiệm trả cho ông Nguyễn Văn P giá trị xây dựng, tu tạo trên đất tranh chấp số tiền 75.000.000 đồng”.

[3.4] Xét thấy, đất tranh chấp được ghi nhận trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc là “khai phá năm 1956”, không phải đất bà T được nhận thừa kế hay bà T nhận chuyển nhượng hoặc cho tặng mà có. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X093787, số vào sổ 01596 QSDĐ/10108/QĐ-UB cấp ngày 30/11/2004 đã ghi cấp cho hộ bà T (thời điểm này thì bà T đã trên 66 tuổi, không còn sức lao động). Đồng thời, tại Công văn số 701/TNMT-TTĐĐ ngày 26/5/2021 và Công văn số 2991/TNMT-TTĐĐ ngày 03/8/2023, cơ quan có thẩm quyền cấp đất cũng đã xác định là cấp đất cho hộ. Do đó, có căn cứ xác định đất tranh chấp là được cấp cho hộ, không phải cấp cho cá nhân bà T. Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung của hộ là có căn cứ chấp nhận. Tuy nhiên, khi giải quyết phân chia, phải xác định thành viên hộ gia đình, công sức của từng thành viên trong hộ và những người có liên quan. Do đất cấp cho hộ nên thành viên trong hộ được xác định theo quy định tại khoản 29 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013, hộ gia đình bà T tại thời điểm cấp đất gồm: cụ M (mẹ bà T) bà T, ông P, bà S. Bà K1 và ông Trương L1 gia đình ở riêng từ trước năm 2006 và cũng đã trình bày phần đất cấp cho hộ gia đình không có hai người này. Riêng ông N (chồng bà S), bà H4, ông K (là vợ và con ông P) chỉ là người có tên trong sổ hộ khẩu, không phải là thành viên hộ gia đình có chung quyền sử dụng đất. Do đó, không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu độc lập của ông N.

[3.5] Ngoài ra, theo “Biên bản thỏa thuận” vào ngày 29/7/2018 và ngày 23/9/2018 thì ông Nguyễn Văn P được hưởng khoảng 3/4 diện tích đất trong khối tài sản chung trên. Những người cùng ký tên vào Biên bản này (đồng thời đã ký tên, điểm chỉ vào sơ đồ kèm theo Biên bản) gồm: Bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn P, bà Nguyễn Thị K1, ông Nguyễn Văn T1 và bà Nguyễn Thị S. Tuy 02 biên bản này và bản vẽ kèm theo chưa được các bên thi hành trên thực tế, nhưng qua đó cũng đã thể hiện rõ ý chí về việc các thành viên trong hộ gia đình cùng các người con khác đều thừa nhận đất tranh chấp là tài sản chung của hộ gia đình và đã chứng minh cho nhận định trên. Mặc dù đã ký biên bản phân chia dất nhưng các bên không thực hiện và có tranh chấp, tại Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2022/QĐST-DS ngày 07/01/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương đã công nhận “ông P đồng ý trả đất cho bà T” theo giấy chứng nhận cấp cho hộ bà T; bà T bồi thường giá trị xây dựng, tu tạo trên đất 75.000.000 đồng cho ông P. Sau đó, ông P tiếp tục tranh chấp tài sản hộ gia đình.

[3.6] Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 494/2024/DS-PT ngày 12/9/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã nhận định: Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2022/QĐST-DS ngày 07/01/2022 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) B hiện đang có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm hoặc giám đốc thẩm, ông P cùng với bà S và ông N (tiếp tục khởi kiện tranh chấp tài sản chung đối với quyền sử dụng đất 19.257 m2 thuộc thửa đất số 617 và thửa số 614, tờ bản đồ số 33 tọa lạc tại phường C, là thuộc trường hợp sự việc được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực nên đã căn cứ vào Điều 311 của Bộ luật Tố tụng dân sự, hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.

[3.7] Tại Quyết định giám đốc thẩm số 96/2025/DS-GĐT ngày 16/5/2025, Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã hủy Bản án dân sự phúc thẩm số 494/2024/DS-PT ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và nhận định tranh chấp tài sản chung theo yêu cầu khởi kiện của ông P đối với bà T là tranh chấp tài sản chung của hộ gia đình, là một quan hệ pháp luật khác so với quan hệ pháp luật đã được giải quyết trong Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2022/QĐST-DS ngày 07/01/2022 của Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát. Quyết định giám đốc thẩm này có hiệu lực nên phải chấp hành. Do đó, phải giải quyết phân chia tài sản chung của hộ gia đình theo yêu cầu khởi kiện của ông P. Khi giải quyết tranh chấp tài sản chung thì phải xem xét công sức đóng góp của từng thành viên, sau đó mới phân chia. Hồ sơ vụ án thể hiện công sức đóng góp của bà T và ông P rất lớn, tuy nhiên đối chiếu với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 02/2022/QĐST-DS ngày 07/01/2022 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Bến Cát thì công sức của ông P đã được xem xét giải quyết với số tiền là 75.000.000 đồng. Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tính công sức gìn giữ, thờ cúng, canh tác làm tăng giá trị đất cho ông P được hưởng 15% là chưa phù hợp nên cần sửa một phần bản án sơ thẩm tính đến công sức khai phá và đại diện hộ gia đình đăng ký kê khai và đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị T được hưởng 15% giá trị công sức trong các thửa đất nêu trên là có căn cứ, đảm bảo công bằng cho các đương sự theo tinh thần của Án lệ số 05/2016/AL ngày 06/4/2016 của Tòa án nhân dân tối cao.

Theo kết quả định giá tài sản xác định như sau: Thửa số 614 theo đo đạc thực tế gồm: 300 m2 đất ở đô thị (đơn giá 6.500.000 đồng/m2), tương đương 1.950.000.000 đồng và 1.134 m2 BHK (đơn giá 5.500.000 đồng/m2), tương đương 6.237.000.000 đồng; thửa số 617 diện tích đo đạc thực tế là 17.303,3 m2 đất cây lâu năm (đơn giá 5.500.000 đồng/m2), tương đương 95.168.150.000 đồng. Các thửa đất tranh chấp theo kết quả đo đạc thực tế có tổng giá trị là: 103.355.150.000 đồng. Bà Nguyễn Thị T được trích 15% công sức trong khối tài sản nêu trên, tương đương với số tiền là: 103.355.150.000 đồng x 15% = 15.503.272.500 đồng. Như vậy, phần giá trị tài sản chung sẽ được phân chia các thành viên hộ sau khi trừ đi phần công sức đã trích cho bà Nguyễn Thị T là: 103.355.150.000 đồng – 15.503.272.500 đồng = 87.851.877.500 đồng. Mỗi thành viên của hộ gia đình sẽ được nhận phần giá trị tương đương là: 87.851.877.500 đồng : 4 = 21.962.969.375 đồng. Xét ông Nguyễn Văn P đã được bà Nguyễn Thị S tự nguyện giao cho quản lý, sử dụng phần tài sản chung được nhận, nên ông Nguyễn Văn P sẽ được nhận giá trị tài sản tương ứng tổng cộng là: 21.962.969.375 đồng x 2 = 43.925.938.750 đồng. Xét bà Nguyễn Thị M đã chết vào ngày 28/7/2006 nên phần tài sản này của bà Nguyễn Thị M trong các thửa đất tranh chấp được giao cho con gái (bị đơn bà Nguyễn Thị T) tiếp tục quản lý, sử dụng là phù hợp. Như vậy, bà Nguyễn Thị T sẽ được nhận với tổng giá trị tài sản tương ứng là: 21.962.969.375 đồng x 2 = 43.925.938.750 đồng + 15.503.272.500 đồng (15% công sức đóng góp) = 59.429.211.250 đồng. Xét các thửa đất đều tiếp giáp đường đi công cộng, với diện tích lớn, đủ điều kiện tách thửa theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chia giao đất cho các đương sự được quản lý, sử dụng tương ứng với giá trị tài sản được chia, cụ thể:

– Nguyên đơn ông Nguyễn Văn P được quyền quản lý, sử dụng diện tích 6.498 m2 đất cây lâu năm thuộc một phần thửa số 617, tờ bản đồ số 33; 300 m2 đất ở đô thị và 1.434 m2 đất cây lâu năm thuộc thửa số 614, tờ bản đồ số 33, tổng cộng diện tích là 7.932 m2 (ký hiệu Khu A trên bản vẽ kèm theo).

– Bị đơn bà Nguyễn Thị T được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 10.805,3 m2 đất cây lâu năm, thuộc một phần thửa số 617, tờ bản đồ số 33 (ký hiệu Khu B trên bản vẽ kèm theo).

[NGUỒN BẢN ÁN SỐ: 1050/2025/DS-PT NGÀY 29-8-2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]

LINK PDF: BẢN ÁN SỐ: 1050/2025/DS-PT NGÀY 29-8-2025

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

09 Nguyễn Huệ, Phường Thuận Hoá, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan