
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của các đương sự; ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 06/9/2024, Tòa án nhân dân Quận C xét xử và ban hành Bản án số 43/2024/KDTM-ST. Ngày 16/9/2024, Công ty TNHH N có đơn kháng cáo. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì kháng cáo của Công ty TNHH N là còn trong hạn luật định nên chấp nhận.
[2] Về tố tụng:
Nguyên đơn – Công ty Cổ phần Đ khởi kiện tranh chấp hợp đồng cung cấp dịch vụ đối với bị đơn là Công ty TNHH N có trụ sở tại Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 38; điểm c, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 thì Tòa án nhân dân Quận C có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm. Do có kháng cáo đối với bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận C nên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Về nội dung kháng cáo:
Bị đơn – Công ty TNHH N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đối với nội dung tuyên buộc Công ty N có nghĩa vụ trả cho công ty Đ số tiền 429.270.000 (bốn trăm hai mươi chín triệu hai trăm bảy mươi nghìn) đồng. Bị đơn cho rằng cấp sơ thẩm tuyên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nhưng chưa xác định lỗi dẫn đến thiệt hại xảy ra, chỉ dựa vào hồ sơ bồi thường của bên bảo hiểm để xác định thiệt hại mà không dựa vào đánh giá của đơn vị chuyên môn là không khách quan, thiệt hại quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Hội đồng xét xử xét thấy như sau:
Ngày 20/01/2016, Công ty Cổ phần Đ (nay đổi tên thành Công ty Cổ phần Đ, sau đây gọi tắt là Công ty Đ) và Công ty TNHH N (gọi tắt là Công ty N) ký kết Hợp đồng cung cấp và lắp đặt hệ thống báo cháy và chữa cháy số 04/2016/HĐTC/LPL.Q6 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng số 04) với nội dung chính: Công ty N giao cho Công ty Đ cung cấp và lắp đặt toàn bộ hệ thống báo cháy và chữa cháy cho Dự án Trung tâm thương mại – Dịch vụ – Căn hộ L tại địa chỉ số 50 đường P, Phường B, Quận G, TP. Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là Dự án) do Công ty N làm chủ đầu tư.
Thực hiện hợp đồng, Công ty Đ đã thực hiện lắp đặt hệ thống báo cháy, chữa cháy và đã đưa vào sử dụng tại Dự án kể từ ngày 08/12/2017. Thời hạn bảo hành công trình 2 năm.
Để đảm bảo bảo hành công trình, Công ty Đ phải có bảo lãnh với số tiền là 725.273.673 đồng (bảy trăm hai mươi lăm triệu hai trăm bảy mươi ba nghìn sáu trăm bảy mươi ba) đồng cho người thụ hưởng là Công ty N.
Ngày 02/5/2018, Công ty Đ đề nghị Ngân hàng A phát hành Bảo lãnh tiền giữ lại như nội dung đã quy định trong Hợp đồng số 04. Cùng ngày, Ngân hàng A đã phát hành Bảo lãnh tiền giữ lại số Seri CKBLK.PHL.12728.020518, số tham chiếu: 261470989. Nội dung Bảo lãnh tiền giữ lại ghi nhận Ngân hàng A cam đoan lập tức thanh toán vô điều kiện cho chủ đầu tư bất kỳ khoản nào hoặc các khoản không được vượt quá 725.273.673 đồng và khoản tiền này sẽ được xem xét là bồi thường thiệt hại cho chủ đầu tư vì lợi ích duy nhất của chủ đầu tư ngay khi Ngân hàng A nhận được yêu cầu và thông báo bằng bản gốc văn bản tiếng Việt của chủ đầu tư nêu rõ rằng nhà thầu không thực hiện nghĩa vụ của mình để sửa chữa các thiếu sót cụ thể mà họ phải chịu trách nhiệm theo Hợp đồng.
Trong thời hạn bảo hành 02 năm, ngày 21/3/2019 tại Dự án xảy ra sự cố rò rỉ nước từ đường ống của hệ thống phòng cháy chữa cháy tại Tầng 7 Tháp LP1 gây thiệt hại phải thay thế toàn bộ hệ thống 3 thang máy của Dự án.
Ngày 25/11/2019, Công ty N phát hành Văn bản số 16/2019-CV-LP, đề nghị Ngân hàng A thực hiện cam kết thanh toán vô điều kiện cho công ty N số tiền 429.270.000 đồng vì nhà thầu là Công ty Đ đã không thực hiện nghĩa vụ bảo hành và bồi thường đối với sự cố vỡ đường ống phòng cháy chữa cháy tại Dự án gây tràn nước làm hư hỏng các thang máy của Dự án.
Ngày 28/11/2021, Ngân hàng A đã gửi văn bản cho Công ty Đ để thông báo rằng Ngân hàng A sẽ thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo văn bản đề nghị và các chứng từ kèm theo của Bên nhận bảo lãnh đã gửi đến Ngân hàng A. Ngày 05/12/2019, Ngân hàng A đã thực hiện thanh toán cho Công ty N số tiền 429.270.000 đồng.
Như vậy, số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả 429.270.000 đồng là một phần của khoản tiền bảo lãnh mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng được giữ bởi ngân hàng A. Để xem xét Công ty N có nghĩa vụ hoàn trả số tiền này cho công ty Đ hay không cần phải xem xét việc thanh toán số tiền 429.270.000 đồng của Ngân hàng A có đúng theo thỏa thuận Bảo lãnh tiền giữ lại giữa các bên không; cần làm rõ sự cố xì đường ống phòng cháy chữa cháy gây tràn nước làm hư hỏng thang máy của Dự án là lỗi của đơn vị nào, lỗi của nhà thầu (là Công ty Đ), của đơn vị vận hành Dự án (Công ty S), của chủ đầu tư (Công ty N) hay của Công ty cung cấp, lắp đặt thang máy (Công ty S). Trong trường hợp xác định Công ty Đ có lỗi để xảy ra sự cố gây thiệt hại thì cần làm rõ giá trị thiệt hại thực tế để xác định số tiền được thanh toán của Bảo lãnh tiền giữ lại, đối chiếu với số tiền Công ty Bảo hiểm P đã thanh toán, số tiền báo giá thay thế linh kiện do Công ty S1 đưa ra. Phải xem xét đánh giá toàn bộ các nội dung này mới có căn cứ để xác định chấp nhận, không chấp nhận, hoặc chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Thực tế Bảo hiểm P đã thanh toán một phần tiền cho Công ty N (có S nhận thay), đồng thời Công ty S1 có báo giá, thực tế đã cung cấp, thay thế đối với các thiệt bị thang máy là đối tượng bị thiệt hại trong tranh chấp này. Cần phải đánh giá các thiệt hại thực tế phát sinh có phải là giá trị thay thế của thang máy mà Công ty S báo giá hay không, cũng như phần đã được bảo hiểm sẽ phát sinh quyền đòi hoàn trả của bên thứ ba từ công ty Bảo hiểm P. Nên cần thiết đưa hai công ty này vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, làm rõ cơ sở của việc thanh toán bảo hiểm, công ty S có lỗi hay không có lỗi trong sự cố thang máy bị hỏng cũng như tính khách quan của bảng báo giá thay thế mà Công ty S đưa ra.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 31/7/2025, các bên đều xác nhận: lưới lọc Y là hệ thống lọc rác từ bể chứa nước trung tâm báo cháy của tòa nhà xuống các đường ống phòng cháy chữa cháy; Việc lắp đặt lướt lọc Y là nằm trong phần việc thi công, trách nhiệm của Công ty Đ; Hình ảnh cung cấp cho các bên xem xét trực tiếp tại phiên tòa thể hiện những mẫu rác được lấy ra từ đường ống của hệ thống phòng cháy chữa cháy Dự án bên cạnh lưới lọc Y được các bên xác nhận bằng mắt thường cũng có thể xác định các loại rác này không thể lọt qua lưới lọc Y. Như vậy, có cơ sở để xác định các rác này có sẵn trong đường ống, không phải di chuyển từ bể chứa nước trung tâm. Do đó cần xem xét yếu tố lỗi của việc tồn tại rác trong đường ống gây ra sự cố. Hội đồng xét xử cũng yêu cầu nguyên đơn cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh đã súc rửa đường ống theo đúng tài liệu trình duyệt biện pháp thi công do Công ty Đ phát hành ngày 15/8/2016 nhưng Công ty Đ không cung cấp được. Tại phiên tòa, các bên đương sự đều xác nhận nguyên nhân dẫn đến sự cố ngày 21/3/2019 tại Dự án tràn nước làm hư hỏng các thang máy là do đường ống có rác, gây tắc nghẽn, tăng áp, xì nước. Nội dung này cũng phù hợp với trình bày tại đơn khởi kiện của nguyên đơn ngày 13/01/2020, biên bản hòa giải ngày 06/5/2021 của cấp sơ thẩm, nguyên đơn đã thừa nhận nguyên nhân gây ra sự cố là “do có gạch cát, ba dớ trong đường ống làm van giảm áp ở các tầng 17, tầng 23 không hoạt động, áp suất nước tăng cao tại tầng 7 gây cho ron tại khớp nối van đường ống cấp nước bị rách, tét dẫn đến xì nước”; và theo biên bản sự việc ngày 25/3/2019 ghi nhận “trong quá trình kiểm tra vệ sinh phát hiện đường ống có nhiều dăm gạch, xỉ hàn, ống nước vụn, cát sỏi, lưới công trình”.
Để xem xét giải quyết yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn hoàn trả số tiền bảo lãnh tương đương 429.270.000 đồng cần phải xem xét đến thỏa thuận của các bên và các nội dung khác liên quan đến điều kiện giữ lại, thanh toán, hoàn trả bảo lãnh, thời điểm hoàn trả, phương thức thanh toán đồng thời xem xét trách nhiệm của bên có lỗi như đã phân tích ở trên. Cấp sơ thẩm đã không xem xét yếu tố lỗi trong vụ án và không căn cứ vào thỏa thuận của các bên để đánh giá, quyết định giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, đại diện Công ty Đ cũng đề nghị trong trường hợp xác định việc bồi thường thiệt hại thì Công ty Đ yêu cầu định giá giá trị hệ thống thang máy đã được lắp đặt thay thế để bảo đảm tính khách quan, không đồng ý với báo giá của Công ty S. Đây là một tình tiết mới phát sinh tại cấp phúc thẩm.
Nguyên đơn và bị đơn tranh chấp đối với hợp đồng thi công lắp đặt hệ thống phòng cháy chữa cháy. Do đó, cấp sơ thẩm xác định tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ là chưa chính xác. Cần điều chỉnh loại tranh chấp là Hợp đồng thi công và áp dụng đúng quy định pháp luật liên quan khi giải quyết vụ án.
Cấp sơ thẩm đã có những thiếu sót mà Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không thể khắc phục được cũng như phát sinh tình tiết mới cần được thực hiện tại cấp sơ thẩm và đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng trong vụ án. Vì vậy, cần thiết phải hủy án sơ thẩm, trả hồ sơ về Tòa án nhân dân Khu vực A để giải quyết lại bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát là không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[NGUỒN BẢN ÁN SỐ 252/2025/KDTM-PT NGÀY 15/8/2025 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH]
LINK PDF: BẢN ÁN SỐ 252/2025/KDTM-PT
…………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn