
Công ước La Hay ngày 05/10/1961 về miễn hợp pháp hóa đối với giấy tờ công của nước ngoài (sau đây gọi là “Công ước Apostille”) là một trong những điều ước quốc tế có phạm vi áp dụng rộng rãi nhất trong lĩnh vực tư pháp quốc tế. Công ước được xây dựng nhằm đơn giản hóa thủ tục công nhận giấy tờ công giữa các quốc gia thành viên thông qua việc thay thế quy trình chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự bằng một thủ tục duy nhất là cấp “Chứng nhận Apostille”.
Ngày 31/12/2025, Việt Nam đã chính thức nộp Văn kiện gia nhập Công ước Apostille tại Bộ Ngoại giao Vương quốc Hà Lan. Sau thời gian theo quy định của Công ước, Việt Nam chính thức trở thành thành viên Công ước Apostille từ ngày 11/09/2026. Đây được xem là một dấu mốc lịch sử trong quá trình cải cách thủ tục hành chính, hội nhập quốc tế và hiện đại hóa cơ chế công nhận giấy tờ công tại Việt Nam.
Để triển khai thực thi Công ước Apostille tại Việt Nam, ngày 23/07/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 293/2026/NĐ-CP hướng dẫn thực thi Công ước La Hay ngày 05/10/1961 về miễn hợp pháp hóa đối với giấy tờ công của nước ngoài. Nghị định có hiệu lực từ ngày 11/09/2026 và là cơ sở pháp lý quan trọng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp Chứng nhận Apostille đối với giấy tờ công của Việt Nam cũng như việc tiếp nhận, sử dụng tại Việt Nam giấy tờ công của nước ngoài đã được cấp Apostille. Bên cạnh đó, vừa qua ngày 03/09/2026, Bộ Ngoại giao cũng đã ban hành Công văn số 7751/BNG-LS nhằm hướng dẫn, tổ chức triển khai thực hiện Công ước Apostille và Nghị định số 293/2026/NĐ-CP trên phạm vi toàn quốc. Đây là bước hoàn thiện quan trọng để đưa cơ chế Apostille vào thực tiễn, bảo đảm tính thống nhất trong việc tiếp nhận, sử dụng và xác thực giấy tờ công giữa Việt Nam và các quốc gia thành viên Công ước.
Trong bài viết này, FDVN sẽ nêu ra các quy định của Nghị định số 293/2026/NĐ-CP, đồng thời hướng dẫn chi tiết: (i) Trình tự, thủ tục cấp Chứng nhận Apostille đối với giấy tờ công của Việt Nam để sử dụng tại các quốc gia thành viên Công ước; và (ii) Điều kiện và nguyên tắc miễn hợp pháp hoá lãnh sự đối với giấy tờ công nước ngoài đã được cấp Chứng nhận Apostille để sử dụng tại Việt Nam. Cụ thể như sau:
I. GIẤY TỜ CÔNG THEO CÔNG ƯỚC APOSTILLE VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1. Hiểu như thế nào là “Giấy tờ công”?
Theo Điều 1 của Công ước Apostille quy định các giấy tờ công vụ bao gồm:
(a) Giấy tờ được ban hành bởi cơ quan hoặc người có thẩm quyền có liên quan đến toà án hoặc cơ quan tài pháp của nước đó, bao gồm các giấy tờ được Cơ quan công tố, nhân viên toà án hoặc một thừa phát lại ban hành;
(b) Giấy tờ hành chính;
(c) Giấy tờ công chứng;
(d) Các xác nhận chính thức trên văn bản được kí bởi những người trên cơ sở thẩm quyền riêng của họ, như những xác nhận chính thức ghi nhận việc đăng kí của một giấy tờ hoặc xác nhận sự thật rằng giấy tờ đó tồn tại từ một ngày nhất định và được công chứng viên có thẩm quyền kí.
Và tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định 293/2026/NĐ-CP quy định rõ giấy tờ công là giấy tờ, tài liệu (dưới dạng bản giấy hoặc dữ liệu điện tử) bởi cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo pháp luật của nước nơi giấy tờ được lập, trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo pháp luật của nước đó, bao gồm: giấy tờ do cơ quan hoặc người có thẩm quyền thuộc tòa án hoặc cơ quan tư pháp lập; giấy tờ hành chính; văn bản công chứng; chứng nhận chính thức trên giấy tờ được ký với tư cách cá nhân.
Như vậy, có thể hiểu, giấy tờ công là giấy tờ được lập bởi các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền theo pháp luật của quốc gia nơi giấy tờ được ban hành, xác lập hoặc chứng nhận trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
Trong thực tiễn, các loại giấy tờ công ở nước ngoài thường gặp bao gồm: Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, Giấy chứng tử, Phiếu lý lịch tư pháp, Bản án và quyết định của Tòa án, Văn bằng và chứng chỉ do cơ sở giáo dục có thẩm quyền cấp, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, … hoặc các giấy tờ hành chính khác, văn bản được công chứng, chứng thực và các loại giấy xác nhận, chứng nhận do cơ quan nhà nước có thẩm quyền nước cấp.
1.2. Các giấy tờ công nào ở Việt Nam thuộc phạm vi cấp chứng nhận Apostille?
Căn cứ Điều 10 Nghị định 293/2026/NĐ-CP có quy định chi tiết các giấy tờ công ở Việt Nam được chứng nhận Apostille bao gồm các giấy tờ:
+ Giấy tờ do cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án lập, ban hành hoặc chứng nhận theo quy định của pháp luật qua các thời kỳ, gồm: bản án, quyết định, văn bản tố tụng của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra; quyết định, biên bản, văn bản của cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án hình sự; vi bằng và các văn bản khác do Thừa phát lại, Thừa hành viên lập khi thực hiện nhiệm vụ.
+ Giấy tờ hành chính do cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền lập, cấp hoặc chứng nhận theo quy định của pháp luật, gồm: giấy tờ về hộ tịch, quốc tịch, nuôi con nuôi; phiếu lý lịch tư pháp; văn bằng, chứng chỉ, giấy xác nhận kết quả học tập, nghiên cứu; giấy khám sức khỏe, giấy chứng nhận y tế, kết luận giám định y khoa và giấy tờ y tế khác; các giấy tờ hành chính khác do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức được Nhà nước phân cấp, ủy quyền thực hiện dịch vụ công cấp hoặc chứng nhận theo quy định của pháp luật.
+ Văn bản công chứng theo quy định của pháp luật về công chứng qua các thời kỳ, gồm hợp đồng, giao dịch, bản dịch và bản sao đã được công chứng.
+ Văn bản chứng thực do cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật chứng thực, gồm: chứng thực bản sao từ bản chính; chứng thực chữ ký, chứng thực chữ ký người dịch; chứng thực hợp đồng, giao dịch.
+ Các giấy tờ công khác do cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của Việt Nam lập, cấp hoặc chứng nhận trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật cũng thuộc phạm vi cấp chứng nhận Apostille, trừ trường hợp không thuộc phạm vi hoặc không đủ điều kiện cấp chứng nhận Apostille.
Vì vậy, các giấy tờ Việt Nam trong phạm vi nêu trên đều sẽ thuộc phạm vi cấp chứng nhận Apostille nếu đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật.
1.3. Các giấy tờ không thuộc phạm vi hoặc không đủ điều kiện cấp chứng nhận Apostille
Không phải mọi giấy tờ công đều có thể được cấp Chứng nhận Apostille. Theo Điều 11 Nghị định 293/2026/NĐ-CP quy định chi tiết các giấy tờ Việt Nam không thuộc phạm vi cấp chứng nhận Apostille và giấy tờ thuộc phạm vi nhưng không đủ điều kiện cấp chứng nhận Apostille. Cụ thể:
Thứ nhất, các giấy tờ không thuộc phạm vi cấp chứng nhận Apostille bao gồm:
– Giấy tờ do viên chức ngoại giao hoặc viên chức lãnh sự của Việt Nam lập, cấp trong quá trình thực hiện chức năng ngoại giao, lãnh sự theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế;
– Giấy tờ hành chính liên quan trực tiếp đến hoạt động thương mại hoặc hải quan, trừ giấy tờ mà trước ngày Công ước Apostille có hiệu lực đối với nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc diện được chứng nhận lãnh sự theo quy định của pháp luật về chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự. Bộ Ngoại giao xác định cụ thể giấy tờ quy định tại điểm này tại danh mục;
– Giấy tờ không do cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền lập, cấp hoặc chứng nhận trong khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật và chưa được công chứng, chứng thực;
– Giấy tờ công do cơ quan, tổ chức hoặc người có thẩm quyền của nước ngoài lập, cấp hoặc chứng nhận.
Thứ hai, các giấy tờ không đủ điều kiện cấp chứng nhận Apostille:
– Giấy tờ bị tẩy xóa, sửa chữa hoặc làm sai lệch nội dung trái phép;
– Giấy tờ có căn cứ xác định là giả mạo;
– Giấy tờ mà kết quả xác minh xác định cơ quan có thẩm quyền không cấp giấy tờ đó, hoặc con dấu, chữ ký, chức danh, thẩm quyền trên giấy tờ không xác thực, không đúng thẩm quyền, không phải con dấu gốc, chữ ký gốc hoặc không phù hợp với mẫu đã đăng ký;
– Giấy tờ công đã bị tuyên bố vô hiệu, thu hồi, hủy bỏ hoặc bị xác định là được cấp trái pháp luật theo quyết định, bản án hoặc văn bản có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;
– Giấy tờ công thuộc diện không được đưa ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam;
– Giấy tờ công của Việt Nam ở dạng dữ liệu điện tử không có chữ ký số hợp lệ của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền hoặc chữ ký số không đáp ứng định dạng kỹ thuật theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Do đó, trước khi thực hiện thủ tục cấp Chứng nhận Apostille, cơ quan có thẩm quyền cần kiểm tra cả phạm vi của loại giấy tờ và tính hợp lệ của chính giấy tờ đó. Trường hợp giấy tờ thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì không được cấp Chứng nhận Apostille và cần thực hiện thủ tục khác phù hợp với quy định pháp luật (nếu có).
II. TRÌNH TỰ, THỦ TỤC CẤP CHỨNG NHẬN APOSTILLE ĐỐI VỚI GIẤY TỜ CÔNG CỦA VIỆT NAM
Bước 1: Xác định giấy tờ đủ điều kiện áp dụng chứng nhận Apostille
Trước khi nộp hồ sơ cấp chứng nhận Apostille, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tại Việt Nam cần phải xác định xem giấy tờ này có đủ điều kiện áp dụng chứng nhận Apostille hay không. Để xác định được điều này, cần phải trả lời được 02 câu hỏi lớn sau đây:
Thứ nhất, Loại giấy tờ có thuộc phạm vi áp dụng của Công ước Apostille hay không? Cần xác định các giấy tờ công này có thuộc các trường hợp được quy định tại Khoản 1.2 Điều 1 và không thuộc các trường hợp không thuộc phạm vi hoặc giấy tờ không đủ điều kiện theo Khoản 1.3 Điều 1 như trên thì giấy tờ công đó sẽ thuộc phạm vi áp dụng của Công ước Apostille.
Thứ hai, Giấy tờ có thuộc trường hợp được miễn chứng nhận theo điều ước quốc tế khác hoặc pháp luật chuyên ngành tại Việt Nam hay không? Nếu thuộc trường hợp được miễn thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ tiếp nhận giấy tờ theo cơ chế miễn, không yêu cầu Chứng nhận Apostille và không yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự.
Bước 2: Chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp Chứng nhận Apostille
Sau khi xác định giấy tờ công thuộc phạm vi áp dụng của Công ước Apostille, người có yêu cầu cấp Chứng nhận Apostille cần chuẩn bị hồ sơ theo quy định tại Điều 12 Nghị định 293/2026/NĐ-CP bao gồm:
+ Tờ khai đề nghị cấp chứng nhận Apostille theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Ngoại giao ban hành;
+ Bản chính giấy tờ công đề nghị cấp chứng nhận Apostille; trường hợp giấy tờ công là bản sao có chứng thực hoặc bản dịch có chứng thực theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực thì nộp bản sao, bản dịch đó. Giấy tờ công phải được giữ nguyên vẹn, không bị tháo rời, tẩy xóa hoặc làm thay đổi nội dung.
Trường hợp nộp hồ sơ trực tuyến thì hồ sơ cần thực hiện đó chính là:
+ Tờ khai theo biểu mẫu điện tử tương tác;
+ Bản điện tử của giấy tờ công có chữ ký số hợp lệ của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể đề nghị cấp chứng nhận Apostille đối với giấy tờ, tài liệu của mình hoặc của người khác mà không cần giấy ủy quyền. Người đề nghị cấp chứng nhận Apostille cho giấy tờ, tài liệu của người khác chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính hợp pháp của việc nộp, sử dụng giấy tờ, tài liệu và tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và pháp luật có liên quan (Điều 7 Nghị định 293/2026/NĐ-CP).
Bước 3: Nộp hồ sơ đề nghị cấp Chứng nhận Apostille
Người yêu cầu thực hiện nộp hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền cấp Chứng nhận Apostille bằng một trong các phương thức được pháp luật cho phép như nộp trực tiếp hoặc nộp trực tuyến đối với các thủ tục được triển khai trên môi trường điện tử nêu trên.
Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận kiểm tra tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ và đối chiếu thông tin trên giấy tờ công với thông tin trong tờ khai đề nghị cấp Chứng nhận Apostille. Trường hợp phát hiện giấy tờ công có dấu hiệu giả mạo, bị tẩy xóa hoặc sửa chữa trái phép thì cơ quan tiếp nhận sẽ ghi chú tại hồ sơ để xử lý theo quy định.
Nếu hồ sơ chưa đầy đủ hoặc chưa hợp lệ, cơ quan tiếp nhận sẽ hướng dẫn người đề nghị bổ sung, hoàn thiện hồ sơ một lần. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hướng dẫn, người đề nghị phải hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu; thời gian này không tính vào thời hạn giải quyết thủ tục hành chính.
Bước 4: Đối chiếu, kiểm tra tính xác thực của giấy tờ công
Sau khi hồ sơ được tiếp nhận hợp lệ, Cơ quan cấp Apostille thực hiện đối chiếu chữ ký, con dấu, chức danh và thẩm quyền trên giấy tờ công với cơ sở dữ liệu về con dấu, chữ ký, chức danh và thẩm quyền được quản lý theo quy định tại Điều 23 Nghị định 293/2026/NĐ-CP. Có 03 trường hợp có thể xảy ra:
+ Trường hợp 1: Kết quả đối chiếu phù hợp, cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện cấp Chứng nhận Apostille.
+ Trường hợp 2: Kết quả đối chiếu thuộc các trường hợp phải xác minh, Cơ quan cấp Apostille thực hiện xác minh theo quy định tại Điều 15 Nghị định 293/2026/NĐ-CP.
+ Trường hợp 3: Trường hợp kết quả đối chiếu không phù hợp mà có căn cứ xác định thông tin, dữ liệu chưa được cập nhật đầy đủ hoặc có sai lệch, Cơ quan cấp Apostille thực hiện xác minh trước khi quyết định việc cấp chứng nhận Apostille.
Đối với các trường hợp không phù hợp khác mà không thuộc trường hợp phải xác minh, Cơ quan cấp Apostille từ chối cấp chứng nhận Apostille.
Bước 5: Cấp Chứng nhận Apostille và trả kết quả
Sau khi hoàn tất việc kiểm tra, đối chiếu hoặc xác minh (nếu có), cơ quan có thẩm quyền thực hiện cấp Chứng nhận Apostille nếu giấy tờ công có đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.
Đối với Chứng nhận Apostille bằng giấy, chứng nhận được đóng hoặc dán trực tiếp trên giấy tờ công hoặc thể hiện trên một tờ rời được đính kèm, gắn liền và không thể tách rời với giấy tờ công. Đối với Chứng nhận Apostille điện tử, chứng nhận được tích hợp hoặc gắn liền với giấy tờ công điện tử nhằm bảo đảm tính toàn vẹn của dữ liệu. Kết quả được trả cho người đề nghị theo phương thức đã đăng ký khi nộp hồ sơ, bao gồm nhận trực tiếp tại Bộ phận Một cửa, qua dịch vụ bưu chính hoặc bằng phương thức điện tử. Ngay sau khi cấp Chứng nhận Apostille, cơ quan cấp Apostille cập nhật thông tin vào Kho dữ liệu Apostille theo quy định.
Thời hạn giải quyết phụ thuộc vào số lượng giấy tờ công trong hồ sơ và phương thức nộp hồ sơ. Đối với hồ sơ giấy, thời hạn giải quyết từ 01 ngày làm việc đến 04 ngày làm việc. Đối với hồ sơ điện tử nộp trực tuyến toàn trình, thời hạn giải quyết từ trong ngày làm việc đến 03 ngày làm việc tùy số lượng giấy tờ đề nghị cấp Apostille. Thời gian này không bao gồm thời gian xác minh theo Điều 15 Nghị định 293/2026/NĐ-CP.
III. ĐIỀU KIỆN VÀ NGUYÊN TẮC MIỄN HỢP PHÁP HOÁ LÃNH SỰ ĐỐI VỚI GIẤY TỜ CÔNG NƯỚC NGOÀI KHI CÓ CHỨNG NHẬN APOSTILLE
Một trong những thay đổi quan trọng nhất khi Việt Nam gia nhập Công ước Apostille là việc giấy tờ công của quốc gia thành viên Công ước có thể được sử dụng tại Việt Nam mà không phải thực hiện thủ tục hợp pháp hóa lãnh sự như trước đây. Tuy nhiên, không phải mọi giấy tờ công nước ngoài đều mặc nhiên được miễn hợp pháp hóa lãnh sự. Việc tiếp nhận và sử dụng giấy tờ công nước ngoài tại Việt Nam cần được thực hiện theo trình tự kiểm tra và xác định cụ thể theo quy định tại Chương IV Nghị định số 293/2026/NĐ-CP.
Bước 1: Xác định giấy tờ công nước ngoài có đủ điều kiện được miễn hợp pháp hóa lãnh sự hay không
Để xác định vấn đề này, cần trả lời 03 câu hỏi lớn sau:
Thứ nhất, Quốc gia cấp giấy tờ có phải là quốc gia thành viên Công ước Apostille có quan hệ áp dụng với Việt Nam hay không? Theo khoản 1 Điều 25 Nghị định số 293/2026/NĐ-CP, chỉ giấy tờ công được cấp bởi quốc gia thành viên Công ước có quan hệ áp dụng với Việt Nam mới được xem xét áp dụng cơ chế miễn hợp pháp hóa lãnh sự.
Thứ hai, Giấy tờ đã được cấp Chứng nhận Apostille hợp lệ hay chưa? Giấy tờ công muốn được miễn hợp pháp hóa lãnh sự phải được cơ quan có thẩm quyền của quốc gia thành viên cấp Chứng nhận Apostille theo đúng mẫu của Công ước Apostille.
Thứ ba, Giấy tờ có thuộc một trong các trường hợp bị từ chối tiếp nhận theo Điều 26 Nghị định số 293/2026/NĐ-CP hay không? Nếu không thuộc các trường hợp từ chối tiếp nhận thì giấy tờ công đã được cấp Chứng nhận Apostille sẽ được miễn hợp pháp hóa lãnh sự và được sử dụng tại Việt Nam mà không phải thực hiện thêm bất kỳ thủ tục chứng nhận nào khác.
Bước 2: Dịch thuật và sử dụng giấy tờ công nước ngoài tại Việt Nam
Theo khoản 1 Điều 27 Nghị định số 293/2026/NĐ-CP, trường hợp giấy tờ công không được lập bằng tiếng Việt thì phải được dịch sang tiếng Việt. Bản dịch phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.
Sau khi hoàn thành việc dịch thuật theo quy định, giấy tờ công đã được cấp Chứng nhận Apostille hợp lệ sẽ được sử dụng tại Việt Nam mà không phải thực hiện thêm thủ tục chứng nhận lãnh sự, hợp pháp hóa lãnh sự giấy tờ.
Bước 3: Xác minh Chứng nhận Apostille khi cần thiết
Theo khoản 2 Điều 27 Nghị định số 293/2026/NĐ-CP, khi tiếp nhận giấy tờ công đã được cấp Chứng nhận Apostille, cơ quan, tổ chức tại Việt Nam có thể xác minh tính xác thực của Chứng nhận Apostille thông qua Sổ đăng ký điện tử của quốc gia đã cấp hoặc thông qua mã QR được tích hợp trên Chứng nhận Apostille.
Trường hợp có căn cứ hợp lý nghi ngờ về tính xác thực của Chứng nhận Apostille và không thể tra cứu thông tin thông qua Sổ đăng ký điện tử, cơ quan, tổ chức tiếp nhận có thể đề nghị Bộ Ngoại giao hỗ trợ xác minh theo quy định tại Điều 28 Nghị định số 293/2026/NĐ-CP.
Ngay sau khi nhận được đề nghị, Bộ Ngoại giao sẽ gửi yêu cầu xác minh đến cơ quan có thẩm quyền cấp Chứng nhận Apostille của quốc gia liên quan và thông báo kết quả xác minh cho cơ quan, tổ chức đã đề nghị. Trường hợp phát hiện Chứng nhận Apostille không hợp lệ hoặc có dấu hiệu giả mạo, Bộ Ngoại giao sẽ phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bước 4: Tiếp nhận và sử dụng giấy tờ công tại Việt Nam
Khi giấy tờ công đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Điều 25 Nghị định số 293/2026/NĐ-CP, cơ quan, tổ chức tại Việt Nam có trách nhiệm tiếp nhận và sử dụng giấy tờ đó theo quy định của pháp luật. Cơ quan, tổ chức tại Việt Nam không được yêu cầu thực hiện thêm thủ tục chứng nhận lãnh sự hoặc hợp pháp hóa lãnh sự đối với giấy tờ công đã được cấp Chứng nhận Apostille hợp lệ.
Việt Nam gia nhập Công ước Apostille và ban hành Nghị định số 293/2026/NĐ-CP là bước tiến quan trọng trong việc đơn giản hóa thủ tục sử dụng giấy tờ công giữa Việt Nam và các quốc gia thành viên Công ước. Tuy nhiên, do đây là cơ chế mới được triển khai tại Việt Nam từ ngày 11/09/2026, việc áp dụng trên thực tế có thể tiếp tục được các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn, hoàn thiện và điều chỉnh trong thời gian tới. Vì vậy, cá nhân và tổ chức nên thường xuyên cập nhật các quy định mới nhất cũng như yêu cầu cụ thể của cơ quan tiếp nhận trước khi sử dụng giấy tờ công trong từng trường hợp cụ thể.
…………….
Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
Luật sư tại Huế:
366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế
Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:
146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh
Luật sư tại Hà Nội:
P.301, Tầng 3, số 63 Vũ Ngọc Phan, phường Láng, thành phố Hà Nội
Luật sư tại Nghệ An:
1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An
Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An
Luật sư tại Gia Lai:
Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai
Website: www.fdvn.vn www.fdvnlawfirm.vn www.diendanngheluat.vn
Email: fdvnlawfirm@gmail.com luatsulecao@gmail.com
Điện thoại: 0772 096 999
Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/
Legal Service For Expat: https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/
TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/
DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/
KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn
KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn
KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn