Feel free to go with the truth

Trang chủ / BÀI VIẾT & ẤN PHẨM CỦA FDVN / HỆ QUẢ CỦA ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THEO YÊU CẦU

HỆ QUẢ CỦA ÁP DỤNG QUY ĐỊNH VỀ THỜI HIỆU KHỞI KIỆN THEO YÊU CẦU

Thời hiệu khởi kiện là một chế định pháp lý quan trọng nhằm xác định khoảng thời gian mà chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, thời hiệu không phải lúc nào cũng được áp dụng mặc nhiên mà còn phụ thuộc vào yêu cầu từ đương sự, theo nguyên tắc quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc áp dụng hay không áp dụng thời hiệu khởi kiện không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giải quyết vụ án, mà còn tác động đến quyền, nghĩa vụ của các bên và tính công bằng trong xét xử. Bài viết này tập trung làm rõ hệ quả pháp lý và thực tiễn phát sinh từ việc áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện theo yêu cầu, qua đó góp phần nhận diện đúng bản chất của thời hiệu trong thực tiễn tố tụng dân sự hiện nay.

  1. Thời hiệu khởi kiện và xác định thời hiệu khởi kiện.

Theo định nghĩa tại Điều 149 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện được hiểu là khoảng thời gian luật định mà trong đó chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Đây là một thiết chế pháp lý có tính chất cưỡng chế, bắt buộc, không thể bị loại trừ bằng sự thỏa thuận giữa các bên. Nói cách khác, thời hiệu không phải là quyền có thể tùy nghi từ bỏ hay gia hạn, mà là ràng buộc pháp lý mang tính trật tự công cộng, nhằm duy trì tính xác tín và ổn định của các quan hệ dân sự – vốn được xây dựng trên cơ sở thiện chí và sự tin tưởng lẫn nhau.

Việc quy định thời hiệu không làm suy giảm hay phủ nhận quyền khởi kiện của chủ thể, mà thể hiện sự giới hạn hợp lý quyền con người trong khuôn khổ pháp luật, bảo đảm không để quyền này bị lạm dụng hoặc kéo dài vô thời hạn, gây bất ổn cho bên có nghĩa vụ và cho hệ thống tư pháp. Khi thời hiệu khởi kiện kết thúc mà không có sự yêu cầu từ phía người có quyền, thì quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ cũng chấm dứt, dẫn đến hệ quả là nghĩa vụ dân sự của bên có nghĩa vụ không còn khả năng bị cưỡng chế thi hành thông qua con đường tố tụng, trừ khi họ tự nguyện thực hiện.

Đồng thời, việc áp dụng thời hiệu khởi kiện còn là một biểu hiện của nguyên tắc tố tụng “chủ thể phải tự bảo vệ quyền của mình” – được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trong đó pháp luật dân sự đóng vai trò cung cấp cơ sở pháp lý nội dung, còn luật tố tụng dân sự đóng vai trò điều chỉnh phương thức và giới hạn thực thi quyền. Sự kết nối giữa hai lĩnh vực luật này thể hiện rõ ràng qua quy định tại Điều 4 BLTTDS 2015: “Các quy định của Bộ luật dân sự về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân sự.”

Thời hiệu khởi kiện không chỉ được ghi nhận như một thiết chế cơ bản trong Bộ luật Dân sự năm 2015 mà còn là một yếu tố có tính chất liên ngành, được quy định và vận dụng trong nhiều văn bản luật chuyên ngành khác như: Luật Thương mại, Bộ luật Lao động, Luật Trọng tài thương mại, Luật Hàng hải Việt Nam, Luật Hàng không dân dụng Việt Nam, v.v… Mỗi lĩnh vực pháp luật lại có đặc trưng riêng biệt, từ đó dẫn đến những quy định cụ thể về thời hiệu khởi kiện khác nhau, tùy theo tính chất của quan hệ pháp luật và đối tượng điều chỉnh. Chính vì vậy, một trong những yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất khi áp dụng thời hiệu khởi kiện là xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp, nhằm xác lập căn cứ pháp lý điều chỉnh thời hiệu tương ứng.

Ví dụ, trong lĩnh vực dân sự, thương mại, tranh chấp phát sinh từ hợp đồng dân sự chịu sự điều chỉnh của Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, với thời hiệu khởi kiện là 03 năm kể từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Trong khi đó, tranh chấp lao động cá nhân lại được điều chỉnh bởi khoản 2 Điều 190 Bộ luật Lao động 2019, giới hạn thời hiệu khởi kiện chỉ trong vòng 01 năm. Sự phân biệt này không chỉ phản ánh tính chuyên biệt hóa trong lập pháp, mà còn nhấn mạnh vai trò của việc xác định đúng loại quan hệ pháp luật để áp dụng đúng quy định pháp luật tương ứng về thời hiệu.

Đồng thời, việc xác định thời hiệu khởi kiện không thể tách rời khỏi yếu tố thời điểm. Thời điểm quyền hoặc lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chính là mốc khởi đầu để tính thời hiệu. Nếu không xác định được chính xác mốc thời gian này, toàn bộ tiến trình áp dụng thời hiệu sẽ mất đi cơ sở. Việc tính thời hiệu phải tuân thủ nguyên tắc tính thời hạn trong pháp luật dân sự: thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên cho đến hết ngày cuối cùng của thời hiệu theo quy định tại Điều 149 và Điều 150 BLDS 2015.

  1. Hệ quả của áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện theo yêu cầu.

Có thể xem quy định về áp dụng thời hiệu khởi kiện theo yêu cầu của đương sự trong Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 là một cơ chế phòng vệ có điều kiện, được kích hoạt bởi yêu cầu chủ quan của đương sự. Cụ thể, theo quy định tại khoản 2 Điều 184 BLTTDS 2015, Tòa án chỉ được áp dụng quy định về thời hiệu khi có bên đương sự yêu cầu, và yêu cầu này phải được đưa ra trước thời điểm Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án hoặc quyết định giải quyết vụ việc. Cách tiếp cận này là biểu hiện rõ nét của nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt trong tố tụng dân sự, qua đó đặt trách nhiệm lựa chọn và bảo vệ quyền lợi vào chính tay người tham gia tố tụng.

Điều này dẫn đến hệ quả pháp lý rất đáng chú ý, rằng việc hết thời hiệu khởi kiện không đồng nghĩa với việc vụ án bị đình chỉ đương nhiên. Chủ thể có quyền, dù đã hết thời hiệu, vẫn có thể gửi đơn khởi kiện và được Tòa án xem xét nếu không có bên nào trong vụ án yêu cầu áp dụng thời hiệu hoặc bên hưởng lợi từ việc hết thời hiệu từ chối viện dẫn điều này như một biện pháp bảo vệ. Chỉ khi đáp ứng đồng thời hai điều kiện (i) thời hiệu đã hết và (ii) có yêu cầu áp dụng được đưa ra đúng thời điểm  thì Tòa án mới có cơ sở pháp lý để áp dụng điểm e khoản 1 Điều 217 BLTTDS 2015.

Thực tế áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện, tại Bản án số 132/2018/DS-PT ngày 15/10/2018 về tranh chấp tiền lãi theo hợp đồng vay của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, bị đơn đề nghị Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện và căn cứ vào quy định của pháp luật để giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Toà án nhận định: “…Đối với số tiền lãi của số tiền 50.000.000 đồng nợ gốc, bị đơn ông C vay nguyên đơn bà L vào ngày 16/8/2010 và hẹn trả nợ vào ngày 16/2/2011 (âm lịch). Đây là hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và có lãi. Đến kỳ hạn trả nợ bị đơn không trả nợ cho nguyên đơn nhưng đến ngày 05/7/2016 nguyên đơn mới yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết thì đã quá thời hiệu khởi kiện (thời hiệu khởi kiện theo Điều 427 BLDS năm 2005 là 2 năm; thời hiệu khởi kiện theo Điều 429 BLDS năm 2015 là 3 năm). Nên, căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định “…Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi thì Tòa án không giải quyết vì đã hết thời hiệu khởi kiện. Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền gốc thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện, Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung”. Tại bản án sơ thẩm sổ 15/2017/DS-ST và bản án phúc thẩm số 04/2018/DS-PT đã buộc bị đơn trả cho nguyên đơn 50.000.000 đồng tiền gốc. Nay nguyên đơn lại tiếp tục yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi từ ngày 16/8/2010 đến ngày 08/01/2018 với lãi suất là 1%/tháng là không có cơ sở pháp lý để xem xét, chấp nhận. Nên việc Toà án cấp sơ thẩm bác yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp…”. Trong vụ án này có thể thấy, mặc dù thời hiệu khởi kiện đối với khoản tiền lãi đã hết nhưng Toà án vẫn thụ lý giải quyết, Toà án chỉ xem xét áp dụng thời hiệu khi có yêu cầu từ đương sự trong vụ án. Cụ thể, bị đơn đã yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Từ đó, Toà án căn cứ vào điểm b khoản 3 Điều 23 Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao quy định đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền lãi thì Tòa án không giải quyết vì đã hết thời hiệu khởi kiện. Đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền gốc thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện, Tòa án thụ lý giải quyết theo thủ tục chung.

Từ góc độ lý luận, sự giới hạn quyền chủ động của Tòa án trong áp dụng thời hiệu khởi kiện thể hiện một sự cân bằng hợp lý giữa tính xác định của pháp luật và tính mềm dẻo của cơ chế tố tụng. Nếu như thời hiệu là công cụ nhằm tạo ra sự ổn định pháp lý, tránh kéo dài tranh chấp và bảo vệ giá trị chắc chắn của các quan hệ dân sự, thì việc chỉ áp dụng thời hiệu khi có yêu cầu là biện pháp bảo vệ công lý khỏi sự lạm dụng hình thức. Đặc biệt trong bối cảnh các quan hệ dân sự – kinh tế ngày càng phức tạp, nhiều trường hợp đương sự không kịp thực hiện quyền do hoàn cảnh khách quan, thì việc cho phép quyền được xét xử tiếp tục tồn tại, nếu không có yêu cầu áp dụng thời hiệu, là biểu hiện của chính sách pháp lý nhân văn, linh hoạt.

Tóm lại, quy định tại khoản 2 Điều 184 BLTTDS 2015 đánh dấu một bước tiến lớn trong việc nội luật hóa các nguyên tắc tố tụng hiện đại. Việc Tòa án chỉ được áp dụng thời hiệu khởi kiện khi có yêu cầu hợp lệ, đúng thời điểm không những khẳng định vai trò trung tâm của đương sự trong tố tụng, mà còn củng cố nguyên tắc công bằng trong tiếp cận công lý, nơi mà quyền khởi kiện được bảo vệ tối đa và không bị tước bỏ một cách máy móc.

  1. Yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện có giới hạn quyền yêu cầu bảo vệ quyền lợi dân sự?

Mặc dù thời hiệu khởi kiện là nguyên tắc chung, nhưng pháp luật vẫn dành một số ngoại lệ quan trọng được quy định tại Điều 155 Bộ Luật Dân sự năm 2015 nhằm bảo vệ các quyền có tính chất đặc biệt hoặc mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Theo đó, không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với các yêu cầu: (i) bảo vệ quyền sở hữu; (ii) bảo vệ quyền nhân thân không gắn liền với tài sản; (iii) tranh chấp về quyền sử dụng đất.

Minh chứng rõ ràng cho việc yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện không làm giới hạn quyền lợi về dân sự vẫn được đảm bảo. Cũng tại Bản án số 132/2018/DS-PT ngày 15/10/2018 về tranh chấp tiền lãi theo hợp đồng vay của Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã viện dẫn ở trên. Mặc dù phía bị đơn yêu cầu áp dụng thời hiệu để bác bỏ toàn bppj yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về thanh toán khoản tiền gốc và lãi, tuy nhiên, Toà án vẫn giải quyết đối với yêu cầu thanh toán khoản tiền gốc vì nguyên tắc bảo vệ quyền sở hữu tại Điều 155 Bộ Luật Dân sự năm 2015 thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện.

Từ góc độ lý luận và thực tiễn, hệ quả lớn nhất của việc áp dụng thời hiệu theo yêu cầu chính là: nếu đương sự không yêu cầu áp dụng hoặc yêu cầu không đúng thời điểm, Tòa án không tự mình áp dụng thời hiệu để đình chỉ vụ án, và vụ án vẫn được giải quyết như các tranh chấp thông thường khác. Điều đó cũng đồng nghĩa, người có quyền mà không hành xử kịp thời sẽ vẫn có cơ hội được xét xử nếu bên còn lại không chủ động viện dẫn quyền được miễn trừ trách nhiệm do thời hiệu đã hết. cần đặc biệt lưu ý rằng không phải mọi quan hệ dân sự đều bị chi phối bởi quy định về thời hiệu khởi kiện. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, có những trường hợp pháp luật loại trừ không áp dụng thời hiệu nêu trên.

………………….

Luật sư tại Đà Nẵng: 

Tầng 2 Tòa nhà Thư Dung Plaza, 87 Nguyễn Văn Linh, phường Hải Châu, thành phố Đà Nẵng

Luật sư tại Huế: 

366 Phan Chu Trinh, phường An Cựu, Thành phố Huế

Luật sư tại TP. Hồ Chí Minh:

146 Hoàng Hoa Thám, phường Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh

Luật sư tại Hà Nội:

Tầng 2, Chung cư Báo Công an nhân dân, 23 đường Nghiêm Xuân Yêm, xã Đại Thanh, thành phố Hà Nội

Luật sư tại Nghệ An:

1421 Nguyễn Tất Thành, phường Quỳnh Mai, Nghệ An

Tầng 2, tòa nhà Cửa Tiền Phố, đường Hồ Hữu Nhân, phường Trường Vinh Tân, tỉnh Nghệ An

Luật sư tại Gia Lai:

Số 61 Phạm Văn Đồng, phường Pleiku, tỉnh Gia Lai

Website: www.fdvn.vn    www.fdvnlawfirm.vn  www.diendanngheluat.vn

Email: fdvnlawfirm@gmail.com    luatsulecao@gmail.com

Điện thoại: 0772 096 999

Fanpage: https://www.facebook.com/fdvnlawfirm/

Legal Service For Expat:  https://www.facebook.com/fdvnlawfirmvietnam/

TỦ SÁCH NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/SayMeNgheLuat/

DIỄN ĐÀN NGHỀ LUẬT: https://www.facebook.com/groups/saymengheluat/

KÊNH YOUTUBE: https://www.youtube.com/c/luatsufdvn

KÊNH TIKTOK: https://www.tiktok.com/@luatsufdvn

KÊNH TELEGRAM FDVN: https://t.me/luatsufdvn

Bài viết liên quan